Thứ Ba, Ngày 16/07/2019
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 6.760.892
Tổng số Thành viên: 2.046
Số người đang xem:  89
Những người Hungary đoạt giải Nobel

Những người Hungary đoạt giải Nobel

Cập nhật cuối lúc 21:52 ngày 30/09/2013, Đã xem 4 150 lần
Có 0 người đã bình chọn
  Đơn giá bán: 54 000 đ
  VAT: Liên hệ
  Model:
  Hãng SX:
  Tình trạng: Còn hàng   Bảo hành: 2013 Tháng

Đặt mua sản phẩm

Nhà xuất bản Tri thức
Nhà xuất bản Tri thức
Tầng 1 - Tòa nhà VUSTA - 53 Nguyễn Du - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội , Hai Bà Trưng, Hà Nội
84 (024)39454661
lienhe@nxbtrithuc.com.vn
Chưa cập nhật hỗ trợ trực tuyến
| Chia sẻ |
CHI TIẾT SẢN PHẨM

Tên sách: Những người Hungary đoạt giải Nobel

Tác giả: Bödök Zsigmond

Dịch giả: Giáp Văn Chung

Hiệu đính: Vũ Hoài Chương

Khổ sách: 14,5x20,5 cm

Số trang: 312 trang

Giá bìa: 54.000 VNĐ

Loại bìa: Mềm, tay gập

Xuất bản tháng 12/2009 

Giới thiệu sách

Xuất thân từ những bình nguyên xa xôi của châu Á, di cư, rồi định cư ở trung tâm châu Âu, pha trộn giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây, có một ngôn ngữ riêng, đặc biệt phong phú và biểu cảm, có ai ngờ được rằng dân tộc Hungary nhỏ bé lại đóng góp cho thế giới rất nhiều tài năng, trên bình diện văn hoá cũng như trên các lĩnh vực khoa học. Một đất nước chỉ khoảng 10 triệu dân nhưng số người Hungary hoặc gốc Hungary đoạt giải Nobel đã lên tới 15. Đó là một kỳ tích trên thế giới mà hiếm dân tộc nào có được.

Bạn đọc có thể tìm thấy ở cuốn sách này những tấm gương về lòng kiên nhẫn, sự bền bỉ, tính tỉ mỉ và chính xác - những yếu tố đảm bảo của mọi thành công. 

GỬI BẠN ĐỌC VIỆT NAM 

Dân tộc Hungary đã sống hàng thế kỷ trên những bình nguyên xa xôi của châu Á, cho tới thời kỳ di dân vĩ đại, tổ tiên của chúng tôi đã làm cuộc trường chinh về phía Tây. Dân tộc chúng tôi đã sống giữa trung tâm châu Âu khoảng 1.100 năm nay, không họ hàng, bất chấp những cuộc chinh phục của các dân tộc láng giềng và các dân tộc từ nơi khác đến. Nhờ nghị lực sống và khát vọng tự do của mình, dân tộc chúng tôi đã vượt qua cuộc tàn sát của quân Nguyên Mông, vượt qua 150 năm thống trị của Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ và sự áp bức của Đế chế Habsburg trong gần ba thế kỷ rưỡi. Đã nhiều lần người Hungary dựng cờ khởi nghĩa giành tự do, nhưng đa số các cuộc khởi nghĩa đều thất bại; tuy nhiên dưới lớp tro, than hồng chưa bao giờ tàn lụi. Có thể nhờ khát vọng sống bất diệt, nhờ sự pha trộn của hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây và nhờ ngôn ngữ riêng, đặc biệt phong phú và giàu biểu cảm của mình mà dân tộc Hungary đã đóng góp cho thế giới rất nhiều tài năng, trên bình diện văn hóa cũng như trên các lĩnh vực khoa học. Cuốn sách mà bạn đọc đang có trong tay nói về những người con vĩ đại của dân tộc nhỏ bé này, những người đã đem hết tài năng của mình phụng sự nền văn minh chung của nhân loại.

Người viết những dòng này biết rõ những biến cố lịch sử của đất nước Việt Nam, biết dân tộc Việt Nam cũng đã trải qua nhiều thế kỷ đau thương và anh dũng để giành lại tự do hằng khao khát. Hơn nữa, tôi còn có dịp quen biết nhiều người Việt Nam tài năng, cần cù và rất mực khiêm tốn. Xin các bạn độc giả Việt Nam đón nhận qua cuốn sách nhỏ này bàn tay bạn bè của một người họ hàng có gốc gác Á Đông từ xa xưa. Tất cả những người có thiện ý đều rất cần thiết để chúng ta cùng nhau vượt qua những thử thách về vấn đề môi trường ngày càng to lớn và giải quyết những bất công xã hội trên hành tinh của chúng ta. Tôi hy vọng cuốn sách này, với những đóng góp khiêm tốn của nó, sẽ góp phần làm cho hai dân tộc chúng ta hiểu biết nhau hơn.

   Dunaszerdahely, 20-4-2009  

Bödők Zsigmond

***** 

LỜI GIỚI THIỆU VỚI BẠN ĐỌC VIỆT NAM 

Có thể xem bản dịch Việt ngữ cuốn sách Những người Hungary đoạt giải Nobel[1] của dịch giả Giáp Văn Chung, mà bạn đọc đang có trong tay, là một trong những đóng góp rất ý nghĩa, thể hiện tình cảm của trên 3.000 người Việt Nam đã và đang học tập, nghiên cứu khoa học và làm việc tại Hungary, đối với đất nước đặc biệt này. Một đất nước chỉ có khoảng 10 triệu dân, với diện tích 93 ngàn km2, nhưng số người Hungary hoặc gốc Hungary đoại giải Nobel lên tới 15 (về con số này, vì những lý do địa lý, chính trị, lịch sử, còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, có những ý kiến cho rằng thực tế con số này còn nhiều hơn thế). Đó là một kỳ tích mà trên thế giới hiếm có quốc gia nào đạt được. Đúng như một câu ngạn ngữ Hungary: “Kicsi a bors, de erős” (Bé hạt tiêu).

Bản dịch rất công phu, có thể nói là rất thành công của TS. Giáp Văn Chung không chỉ thể hiện tâm huyết, lòng yêu mến và sự tri ân của dịch giả đối với đất nước mà anh đã từng học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong nhiều năm, mà còn giới thiệu cho bạn đọc Việt Nam, đặc biệt cho học sinh, sinh viên và thanh niên về cuộc đời và sự nghiệp của những nhà khoa học Hungary vĩ đại, qua đó hiểu biết thêm đất nước Hungary kỳ diệu. Dịch giả đã hoàn thành xuất sắc bản dịch này nhờ vốn kiến thức sâu rộng của mình và tình yêu đối với đất nước và con người Hungary. Đây là một công việc rất khó khăn vì các nhà khoa học Hungary đoạt giải Nobel thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau và còn vì tiếng Hung là một trong những ngôn ngữ khó nhất trên thế giới. Dịch giả đã có thời gian dài học tập và làm việc tại Hungary, anh cũng từng trên mười năm đứng trên bục giảng đại học ở Việt Nam, nên có đủ điều kiện chuyển ngữ chính xác và trong sáng cuốn sách này từ tiếng Hung sang tiếng Việt.

Cách đây gần 10 năm, tôi có may mắn được tới thăm Stockholm (Thụy Điển) và tất nhiên đã không bỏ lỡ cơ hội tìm hiểu về lịch sử, quy trình xét và trao giải Nobel. Tôi cũng đã mua một cuốn sách tiếng Anh nói về những nội dung này và có ý định dịch ra tiếng Việt để giới thiệu với bạn đọc Việt Nam. TS. Giáp Văn Chung đã làm được việc tương tự và rất có ý nghĩa trước tôi. Điều độc đáo và sâu sắc hơn của cuốn sách này là ngoài phần giới thiệu những người Hungary hay gốc Hungary đã đoạt giải Nobel, nó còn giới thiệu các nhà khoa học nổi tiếng khác của Hungary lẽ ra xứng đáng đoạt giải, những người Hungary đã đoạt các giải thưởng khoa học quốc tế tầm cỡ khác, những đóng góp của các nhà khoa học Hungary trong các ngành khoa học như kỹ thuật tính toán, truyền thông, hàng không v.v...

Tình cờ, gần đây, tại Hội nghị toán học quốc tế do Viện Toán học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, tôi có cơ duyên tiếp kiến một nhà toán học đồng niên xuất sắc người Hungary, đó là GS, TSKH Lovász László, Viện sỹ của Viện Hàn lâm Khoa học (VHLKH) Hungary, VHLKH châu Âu và nhiều VHLKH các nước khác, hiện ông đang giữ chức Chủ tịch Hội Toán học Thế giới và từ năm 1999, là người đứng đầu bộ phận nghiên cứu của Microsoft. Khi còn là học sinh chuyên toán của Trường Trung học Fazekas tại Budapest, ông đã nổi tiếng là một thần đồng toán học Hungary, ba lần đoạt Huy chương Vàng Toán Olympic Quốc tế, trong đó hai lần đạt số điểm tối đa[2]. Năm 1999, ông đã đoạt giải thưởng Wolf (được giới chuyên môn coi là giải Nobel Toán học), ngoài ra ông còn là chủ nhân của rất nhiều giải thưởng danh tiếng trong nước và quốc tế. Thật thú vị, khi được biết GS Lovász László là thầy hướng dẫn luận án tiến sỹ của GS.TS Vũ Hà Văn (con trai nhà thơ Vũ Quần Phương). GS.TS Vũ Hà Văn (Khoa toán Đại học Tổng hợp Rutgers) vừa được Hội Toán học và Ứng dụng Công nghiệp Mỹ (SIAM) trao giải thưởng George Polya Prize, một giải thưởng lớn dành cho các nhà nghiên cứu toán tổ hợp. Và còn thú vị hơn khi biết giải thưởng George Polya của SIAM lại mang tên nhà toán học, nhà sư phạm lỗi lạc Hungary Pólya György. Lại một ví dụ sinh động cho câu ngạn ngữ nói trên: một nước nhỏ vẫn có thể trở thành một cường quốc trong khoa học.

Với tư cách một người đã từng có may mắn nhiều năm làm nghiên cứu toán học và bảo vệ luận án PTS và TS (nay là TS và TSKH) tại Hungary, tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bản dịch cuốn sách Những người Hungary đoạt giải Nobel, tin chắc rằng cuốn sách quý này sẽ làm hài lòng bạn đọc. Hy vọng rằng nó sẽ được Đại sứ quán Hungary tại Hà Nội, Hội Hữu nghị Việt Nam-Hungary, những người đã từng sống, lao động và học tập trên đất nước Hungary cùng bạn đọc xa gần đón nhận nồng nhiệt.

Cũng có thể xem đây là món quà quý giá góp phần kỷ niệm 60 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Hungary (1950-2010).

Hà Nội, ngày 30-3-2009

 GS. TSKH Trần Văn Nhung 

*****

LỜI NGƯỜI DỊCH 

Vào một ngày nóng nực tháng 6-1939, hai nhà khoa học trẻ người Hungary - Wigner Jenő và Szilárd Leó - đã tìm đến ngôi nhà nhỏ một tầng ở Peconic của nhà bác học lừng danh thế giới Albert Einstein.

Einstein, khi đó 60 tuổi, vừa đi bơi về còn đang mặc quần đùi áo may ô, đã nồng nhiệt tiếp hai người bạn trẻ từng quen biết từ khi ở Berlin. Trước đó, ông đã biết người Đức đang tiến hành những thí nghiệm bắn phá uranium bằng các neutron để thực hiện phản ứng hạt nhân dây chuyền, nhưng Einstein chưa hề nghĩ tới điều hai người Hungary nói: sử dụng phản ứng hạt nhân dây chuyền có thể chế tạo ra một loại bom có sức công phá cực lớn - bom nguyên tử.

Cũng như Wigner Jenő và Szilárd Leó đã rời bỏ Hungary, Einstein đã rời bỏ nước Đức phát xít, ông hiểu rõ nếu Hitler nắm trong tay loại vũ khí hủy diệt này, thì nhân loại sẽ đứng trước thảm họa khủng khiếp như thế nào. Ông xem kỹ và đồng ý ký ngay vào lá thư do Szilárd viết từ trước, gửi ông Đại sứ Bỉ tại Washington, yêu cầu chính phủ Bỉ ngăn chặn việc khai thác Uranium từ xứ Congo thuộc Bỉ (có sản lượng khai thác lớn nhất lúc đó), không cung cấp cho các thế lực phát xít.

Nhưng Szilárd vẫn chưa yên tâm, liệu lá thư trên có đạt được mục đích, hay phải viết thư trực tiếp cho Tổng thống Mỹ Roosevelt? Có điều, lúc đó ông chưa có tên tuổi gì ở Mỹ, làm sao gửi thư trực tiếp cho tổng thống? May mắn thay, ông đã nhờ được người bạn quen là Alexander Sachs, một nhà đầu tư ngân hàng, đồng ý giúp đỡ.

Một tuần sau, ông lại tìm gặp Einstein, lúc đó Wigner đang ở California, vì vậy ông đi cùng một người Hungary khác là Teller Ede, Giáo sư Vật lý trẻ của Đại học Columbia. Họ đã yêu cầu Einstein ký vào lá thư thứ hai, lần này gửi Tổng thống Mỹ, cảnh báo nguy cơ thứ vũ khí hủy diệt mới này có khả năng rơi vào tay Hitler. Lá thư còn yêu cầu “các nhà lãnh đạo chính phủ hãy thường xuyên giữ mối liên hệ với các nhà vật lý đang nghiên cứu phản ứng hạt nhân dây chuyền ở Hoa Kỳ.”

Có thể nói đây là lá thư có tầm quan trọng nhất của thế kỷ XX. Cuộc viếng thăm cha đẻ thuyết tương đối của những người Hungary, không bao lâu sau đã làm thay đổi tiến trình lịch sử của nhân loại.

Szilárd tưởng lá thư có chữ ký của Einstein sẽ gây sự chú ý của Roosevelt, ông không hề biết rằng, tới tận ngày 1-9-1939, khi phát xít Đức tấn công Ba Lan, bức thư vẫn nằm trong ngăn kéo của Văn phòng Tổng thống. Cuối cùng, lại chính Sachs đã lưu ý Roosevelt về bức thư của Einstein. Ý thức được sự cấp thiết và hệ trọng của sự việc nêu trong thư, Tổng thống Roosevel đã lập tức cho triển khai “Manhattan Project” (Dự án Manhattan) nổi tiếng: nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử, trong khi ông không hề biết lá thư kia do ba người di tản Hungary viết, khi đó họ còn chưa là công dân Mỹ.

Ba nhà khoa học - Szilárd Leó, Wigner Jenő, Teller Ede -, mà các đồng nghiệp Mỹ gọi vui là nhóm “Mafia Hungary”, hay “những người Hỏa tinh”, đã đóng vai trò chủ chốt trong việc Hoa Kỳ chế tạo thành công bom nguyên tử trước nước Đức phát xít. Sau này, Teller Ede còn trở thành cha đẻ của bom H (bom Hydro), và ngày nay, số đông các chính khách và học giả trên thế giới thống nhất cho rằng Teller là người có công lớn trong việc chấm dứt chạy đua vũ trang, kết thúc thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường.

 Kể lại câu chuyện đã đi vào lịch sử khoa học trên, cũng như việc chuyển ngữ cuốn sách này, người dịch muốn bạn đọc hiểu thêm một phần những đóng góp mang tầm thời đại của các nhà khoa học Hungary (hoặc gốc Hungary) cho sự phát triển khoa học thế giới và tiến bộ của nhân loại. Cuốn sách nhỏ này cũng sẽ giúp bạn đọc Việt Nam tìm hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của những nhân vật xuất chúng của dân tộc kỳ lạ này. Một dân tộc nhỏ bé nằm giữa trung tâm châu Âu, đã trải qua những biến cố lịch sử hết sức bi thương, một đất nước đứng về phe thất trận trong hai cuộc chiến tranh thế giới, bị chia năm xẻ bảy như Hungary, thật đáng khâm phục, lại là một dân tộc thông minh, tài hoa rất mực, có số giải Nobel tính trên đầu người có lẽ vào hàng cao nhất trên thế giới.

Vì tiếng Hung là một ngôn ngữ khó, “thực tế không thể học nổi” (lời nhà báo Mỹ gốc Hungary, Kati Marton), một thứ ngôn ngữ không giống một ngữ hệ nào của châu Âu, cuốn sách lại liên quan đến rất nhiều môn, ngành khoa học khác nhau, từ y học, vật lý nguyên tử, sinh học, hóa học, toán học đến văn học..., nên mặc dù người dịch đã hết sức cố gắng và cầu thị, chắc chắn không tránh khỏi những sai sót đáng tiếc.

Chúng tôi thực tâm mong nhận được sự đóng góp của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn và bạn đọc để lần xuất bản sau bản dịch được hoàn chỉnh hơn.

Nhân đây, người dịch cũng xin chân thành cảm ơn GS. TSKH Trần Văn Nhung đã bớt chút thời gian góp ý, khích lệ và viết Lời giới thiệu với bạn đọc Việt Nam cho cuốn sách, cảm ơn TS. Vũ Hoài Chương đã đọc bản thảo, hiệu đính bản dịch rất khoa học và kỹ lưỡng, cảm ơn bạn Nguyễn Hoàng Linh đã viết Lời bạt cho cuốn sách, và cảm ơn Nhà xuất bản Tri thức đã đưa cuốn sách rất có ý nghĩa này đến tay bạn đọc.

                                                            Budapest, 30-3-2009

                                                            TS. Giáp Văn Chung

 

*****

LỜI NÓI ĐẦU

 

Đặc tính của con người trong các xã hội văn minh từ những thời đại cổ xưa nhất tới nay là ngoài việc mưu sinh và tích lũy của cải vật chất, họ luôn mong muốn sự tôn trọng của xã hội. Trong quá khứ, khát vọng ấy được toại nguyện qua việc giành được những danh tước quý tộc, đại quý tộc khác nhau, các chức sắc giáo hội, các tước hiệu hiệp sỹ và giáo đoàn, các huân huy chương dũng sỹ v.v... Ngày nay, nó được biểu hiện dưới dạng các cấp học vị như Tiến sỹ khoa học, Tiến sỹ, Tiến sỹ danh dự, Viện sỹ Hàn lâm - ở đây chỉ xin lấy ví dụ trong giới khoa học. Nhưng có thể kể đến các nhà vô địch Thế vận hội, các giải Oscar của giới nghệ sỹ, những người chinh phục các đỉnh cao và độ sâu - niềm khát khao chiến thắng vô hạn nhiều khi kích thích họ lập nên những kỳ tích ngoài sức tưởng tượng. Tuy nhiên, so với tất cả, chắc không một ai có thể hoài nghi: giải Nobel ở tầm cao hơn hẳn tất cả các danh hiệu, phần thưởng, học vị khoa học và các tước hiệu khác.

Giải thưởng Nobel, hiển nhiên là sự thừa nhận uy tín khoa học tầm cỡ thế giới không chỉ đối với cá nhân người được trao giải, mà đối với cả dân tộc. Mặc dù trên thế giới rất nhiều viện hàn lâm khoa học, các trường đại học lâu đời, các hiệp hội khoa học, các tổ chức quốc tế, thậm chí cả các quỹ do tư nhân sáng lập, hằng năm hoặc định kỳ đều trao nhiều giải thưởng công nhận các kết quả nghiên cứu, các công trình khoa học, sự nghiệp cả cuộc đời...- phần lớn các giải thưởng đều kèm theo tiền thưởng đáng kể -, nhưng giải thưởng tầm cỡ nhất vẫn là giải Nobel. Gần một trăm năm nay, giải thưởng thường niên này đã trở thành biểu tượng của sự vinh danh cao quý nhất, nó biểu trưng cho cấp bậc khoa học cao nhất, chỉ những người xuất chúng nhất mới có khả năng vươn tới. Vậy nên, trong đội ngũ hùng hậu các phòng thí nghiệm và các lò chuyên môn, bên cạnh nỗ lực đạt được mục tiêu nghiên cứu sớm nhất, dù không công khai, vẫn diễn ra sự ganh đua lành mạnh để giành ngôi vị dẫn đầu, mà một trong những yếu tố khích lệ là việc giành giải Nobel.

Chúng ta, những người Hungary, có quyền tự hào, vì dân tộc nhỏ bé của chúng ta đã đóng một vai trò nổi bật trong sự phát triển của nền khoa học tự nhiên toàn cầu, vì trí tuệ xuất sắc của chúng ta có mặt trên nhiều đài vinh danh khoa học. Phải tốn nhiều giấy mực để liệt kê hết những người Hungary xuất chúng - những bác sỹ, các nhà toán học, vật lý, hóa học, sinh học, thiên văn học và địa chất học - bằng những phát minh, sáng chế, những cải tiến kỹ thuật của mình, đã thúc đẩy sự phát triển của nhân loại. Chưa kể tới các nhà sư phạm, các giáo sư xuất sắc người Hungary, bằng sự nghiệp đào tạo tại các trường đại học danh tiếng trên thế giới, đã tác động tích cực tới sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên. 

Có một sự thật đáng tiếc: trong thế kỷ XX, phần đông các nhà khoa học Hungary đạt được những thành quả tầm cỡ thế giới ở nước ngoài, sau khi đã rời khỏi Tổ quốc mình. Có những người ra đi vì lý do chính trị; sau khi Hitler lên cầm quyền, chủ yếu các nhà khoa học gốc Do Thái và những người phê phán tư tưởng của chủ nghĩa phát xít đã bỏ ra nước ngoài. Sau sự biến năm 1956, làn sóng di tản lại gây chảy máu chất xám đáng kể. Sự di cư vì những lý do phi chính trị trước hết phải kể tới sự thiếu vắng những điều kiện nghiên cứu khoa học phù hợp ở trong nước. Những phòng thí nghiệm trang bị trình độ cao, những tập thể khoa học ­­­- chuyên môn, những trường đại học nước ngoài đã cuốn hút các chuyên gia giỏi về lý thuyết nhưng không thể tiếp tục phát triển trong môi trường nội địa. Trong số đông những người đoạt giải Nobel của chúng ta, duy nhất có Szent-Györgyi Albert nhận giải thưởng cao quý này khi còn ở Hungary, nhưng gần một thập kỷ sau đó, ông cũng buộc phải ra nước ngoài.

Đây là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao những nhân vật xuất chúng này, cho tới hôm nay, chưa hiện hữu ở mức độ cần thiết trong tâm thức dân tộc Hungary. Hiển nhiên, bộ máy tuyên truyền trước đây không vinh danh những thành tựu khoa học của phương Tây, đặc biệt những kết quả của các nhà khoa học lưu vong. Cách làm phổ biến nhất là báo chí trong nước lờ tịt không đếm xỉa gì đến thành tích của các nhà khoa học lưu vong, ngay cả các tạp chí chuyên môn cũng chỉ miễn cưỡng thông báo cụt lủn mỗi khi có một thành tựu dù rất quan trọng. Trên lĩnh vực này, sự thay đổi thể chế chính trị đã mang lại những thay đổi căn bản. Nhiều nhà khoa học đã về thăm đất nước, tổ chức các buổi thuyết trình, là khách mời danh dự trong các kỳ họp của Viện Hàn lâm, họ được phong hàm Tiến sỹ danh dự, được nhận các giải thưởng nhà nước cao quý. Rất tiếc, phần đông trong số họ không còn được chứng kiến sự tôn vinh của xã hội trong nước, nhưng sự nghiệp và di sản tinh thần của họ đã được đưa lên vị trí xứng đáng trong lịch sử khoa học Hungary.

Trong cuốn sách khiêm nhường mà độc giả quý mến đang có trên tay, chúng tôi giới thiệu những người Hungary hoặc gốc Hungary đã đoạt giải Nobel. Trong phần phụ lục, chúng tôi còn nói tới những nhân vật được đề cử giải thưởng này, cũng như những người đáng ra phải được trao giải do những thành quả họ đạt được. Trước hết, tôi muốn dành cuốn sách này cho tuổi trẻ học đường. Hy vọng các bạn tìm thấy những tấm gương về lòng kiên nhẫn, sự bền bỉ, tính tỷ mỉ và chính xác - những yếu tố bảo đảm của tất cả mọi thành công. Hy vọng các bạn sẽ tự hào về những bậc tiền bối vĩ đại, để có thêm sức lực đi tiếp con đường họ đã đi, đặng đạt tới những tri thức chỉ có thể chiếm lĩnh bằng nhiều nỗ lực và hy sinh, nhưng nó sẽ bù đắp xứng đáng cho các bạn.

Bödők Zsigmond

*****

MỤC LỤC

Gửi bạn đọc Việt Nam

Lời giới thiệu với bạn đọc Việt Nam

Lời người dịch

Lời nói đầu

Alfred Nobel 

Những người Hungary đoạt giải Nobel

Lénárd Fülöp (Giải Nobel Vật lý)

Bárány Róbert (Giải Nobel Y học)

Zsigmondy Richard Adolf (Giải Nobel Hóa học)

Szent-Györgyi Albert (Giải Nobel Sinh lý học)

Hevesy György (Giải Nobel Hóa học)

Békésy György (Giải Nobel Y học)

Wigner Jenő (Giải Nobel Vật lý)

Gábor Dénes (Giải Nobel Vật lý)

Friedman Milton (Giải Nobel Kinh tế)

Polányi János (Giải Nobel Hóa học)

Wiesel Elie (Giải Nobel Hòa bình)

Harsányi János (Giải Nobel Kinh tế)

Oláh György (Giải Nobel Hóa học)

Kertész Imre (Giải Nobel Văn học)

Avram Hershko (Giải Nobel Hóa học)

Giải Nobel văn chương và các nhà văn Hungary

Cội nguồn Hungary của Daniel Carleton Gajdusek

Một giải Nobel nữa liên quan đến Hungary

Những người lẽ ra được trao giải Nobel

Cuộc đổ bộ của người Sao Hỏa - hay hiện tượng Hungary

Eötvös Loránd

Zemplén Győző

Kármán Tódor

Polányi Mihály

György Pál

Szilárd Leó

Teller Ede

Lánczos Kornél

Neumann János

Bay Zoltán

Selye János

Appendix

Thế kỷ XX được tạo nên tại Budapest

Những người Hungary đoạt giải Wolf

Những người Hungary được trao giải thưởng National Medal Of Science của Mỹ

Những thành viên Hungary của Royal Society

Các giải thưởng và phần thưởng khoa học quốc tế mang tên các nhà khoa học Hungary

Gallery không gian của các nhà Khoa học Tự nhiên Hungary

Tài liệu tham khảo và giới thiệu

Lời bạt



[1] Bödők Zsigmond: A Nobel-díjas magyarok, Helikon kiadó-Napkiadó, Dunaszerdahely, 2005. 

[2] Năm 2007, con trai Lovász Lászlo là Lovász Lászlo Miklós đã tham gia thi Olympic quốc tế (IMO lần thứ 48) được tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội, đoạt huy chương bạc. Năm đó, đoàn Việt Nam đoạt giải Ba, sau đoàn Nga và Trung Quốc.

NHẬN XÉT SẢN PHẨM
Chưa có nhận xét gì về sản phẩm
VIẾT NHẬN XÉT
Hãy đăng nhập để viết nhận xét cho sản phẩm