Thứ Bảy, Ngày 23/06/2018
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 5.540.446
Tổng số Thành viên: 1.927
Số người đang xem:  57
Cách mạng học tập

Cách mạng học tập

Cập nhật cuối lúc 12:30 ngày 10/10/2016, Đã xem 4 275 lần
Có 0 người đã bình chọn
  Đơn giá bán: 112 000 đ
  VAT: Liên hệ
  Model:
  Hãng SX:
  Tình trạng: Hết hàng   Bảo hành: 2013 Tháng

Đặt mua sản phẩm

Nhà xuất bản Tri thức
Nhà xuất bản Tri thức
Tầng 1 - Tòa nhà VUSTA - 53 Nguyễn Du - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội , Hai Bà Trưng, Hà Nội
84 39454661
lienhe@nxbtrithuc.com.vn
Chưa cập nhật hỗ trợ trực tuyến
| Chia sẻ |
CHI TIẾT SẢN PHẨM

Tên sách: Cách mạng học tập

Tác giả: Gordon Dryden và Jeannette Vos

Dịch giả: Phạm Anh Tuấn

Giá bìa: 112.000Đ

Loại sách: Mềm, tay gập 

Lời người dịch 

Độc giả đang cầm trên tay cuốn sách có thể được coi là dễ đọc. Song, những vấn đề được đề cập trong cuốn sách lại có phạm vi ý nghĩa rất lớn, và điều thú vị nằm ở chỗ là những vấn đề thực ra rất rộng và nhiều vấn đề có thể trái ngược với niềm tin xưa nay của không ít người. Hai tác giả, Gordon Dryden và Jeannette Vos, đã sử dụng văn phong báo chí, vì vậy nhiều vấn đề sâu sắc đã được trình bày thật dễ hiểu, và đồng thời nhiều ví dụ và số liệu cụ thể đã được cung cấp để người đọc có thể thậm chí vận dụng ngay cho mục đích cá nhân. Độc giả của cuốn sách này có thể là bất cứ ai – một giáo sư đại học hoặc một giáo viên mẫu giáo, một người làm việc trong bất cứ lĩnh vực gì cho tới một học sinh phổ thông. Một cô gái, chàng trai trẻ tuổi hoặc một phụ nữ nội trợ, một bà mẹ đang nuôi con nhỏ. Cuối cùng, bản thân cuốn sách còn có thể được dùng để soạn những bản trình chiếu rất tiện lợi (powerpoint presentation): cuốn sách được trình bày theo cách mỗi trang chữ đều có một trang hình ảnh bên cạnh để minh hoạ.

Gordon Dryden, một người New Zealaland rời ghế nhà trường khi ông mới 14 tuổi, một điều bị coi là trái luật tại New Zealand, thế nhưng sau đó ông đã tự học và trở thành người rất nổi tiếng tại New Zealand: nhà báo, người dẫn chương trình truyền hình, viết sách và chuyên gia về truyền thông đa phương tiện. Năm 1990, ông đã thuyết phục một quỹ từ thiện tại New Zealand tài trợ 2 triệu đô la để thành lập Quỹ Thái Bình Dương (Pacific Foundation) nhằm phát động một cuộc tranh luận về giáo dục trong thế kỷ XXI. Ông đã cùng một nhóm quay phim truyền hình đi tới nhiều nơi trên thế giới và ghi lại 150 tiếng băng hình tư liệu để biên tập thành sáu cuốn phim tài liệu mỗi cuốn dài một tiếng.

Jeannette Vos, một phụ nữ Hà Lan di cư tới Mỹ trong Thế chiến II. Bà làm giáo viên, song đã sớm thất vọng với hệ thống giáo dục của nước Mỹ, đến nỗi bà đã suýt từ bỏ nghề dạy học. Bà quyết định tạm dừng công việc dạy học để tập trung vào công trình luận văn tiến sĩ giáo dục học kéo dài bảy năm.

Gordon Dryden và Jeannette Vos gặp nhau tại một hội nghị quốc tế về học tập được tổ chức tại Mỹ vào năm 1990. Trong lần gặp lại nhau tại một hội nghị quốc tế khác, họ đã trao đổi với nhau các công trình nghiên cứu: sáu cuốn phim tài liệu của Gordon Dryden và luận văn tiến sĩ giáo dục học của Jeannette Vos. Sau đó hai người đã quyết định viết chung cuốn Cách mạng học tập. Cuốn sách được xuất bản lần thứ nhất vào năm 1993, được dịch sang 20 thứ tiếng và được xuất bản tại 26 nước với số lượng tiêu thụ kỷ lục tại Trung Quốc: 10 triệu cuốn chỉ trong bảy tháng ra mắt. Kể từ lần xuất bản đầu tiên vào năm 1993 cho tới lần tái bản sau cùng vào năm 2009 mà bản dịch tiếng Việt bạn đang cầm trên tay, Cách mạng học tập đã được tái bản năm lần có cập nhật.

Gordon Dryden và Jeannette Vos thông qua Cách mạng học tập đã lên tiếng cảnh báo sự lạc hậu thấy rõ của nhiều trường học trên thế giới so với sự phát triển kỳ diệu của những lĩnh vực khác của đời sống. Hai tác giả kêu gọi nhà trường hãy làm một cuộc cách mạng học tập để nhà trường và giáo dục xứng tầm với sự phát triển của nền văn minh nhân loại.

Thế giới đã có những động lực và chìa khoá để mở ra cuộc cách mạng học tập này. Giờ đây, con người biết cách lưu giữ toàn bộ thông tin và tri thức của nhân loại theo nguyên tắc toàn cầu, tương tác, dễ dàng chia sẻ, cá nhân, đồng - sáng tạo, tức thời, và thường là miễn phí hoặc hầu như miễn phí: Mạng thông tin toàn cầu (the Word Wide Web). Cuộc cách mạng Internet thế hệ thứ hai – Web 2.0 – đã làm thay đổi hoàn toàn khái niệm trường học và người học: thay cho những ngôi trường nằm tại địa điểm cố định với thời gian học tập cố định là mạng học tập ảo toàn cầu – địa điểm học tập tại bất cứ nơi nào và vào bất kỳ thời gian nào, và học giờ đây không chỉ là những năm tháng tại trường phổ thông và đại học – học nghĩa là học tập suốt đời: học để sống.

Những động lực thay đổi còn xuất hiện tại những lĩnh vực khác:

Cuộc cách mạng lượng tử (quantum revolution) cho phép con người thậm chí có thể tạo ra những dạng vật chất mới. Nhưng quan trọng hơn, nhìn thế giới bằng quan niệm lượng tử nghĩa là không tồn tại những hệ thống độc lập tại bất cứ đâu ở mức độ lượng tử; không có gì thoát khỏi các mối quan hệ (Chương 1).

Cuộc cách mạng sinh học phân tử (the biomolecular revolution) giúp chúng ta mô tả đầy đủ hệ di truyền của mọi sinh vật. Con người rốt cuộc trở thành đạo diễn của sự sống trên trái đất.

Cuộc cách mạng của ngành thần kinh học (the neuroscience revolution): kỹ thuật chụp cộng hưởng từ đã giúp chúng ta quan sát được cấu trúc cơ bản của bộ não – hiểu biết về bán cầu não trái thiên về tư duy phân tích tuyến tính và bán cầu não phải thiên về tư duy tổng hợp phi tuyến tính rốt cuộc đã chấm dứt địa vị độc tôn của bán cầu não trái.

Cuộc cách mạng di truyền học (the genetic revolution) đem lại nhận thức rằng mọi sự sống là một – mọi sinh vật đều được làm ra từ mã di truyền như nhau: trẻ em sinh ra đều có các gen hầu như giống nhau (99,9%).

Cuộc cách mạng hệ thống (the systems revolution) – mô hình tổ chức vừa ổn định vừa hỗn loạn (hỗn-ổn: chaodic) luôn tự đổi mới theo cung cách tự nhiên, tức xét như những hệ thống hữu cơ biết tự tổ chức, đang ngày càng trở thành phổ biến. Bản thân mạng Internet toàn cầu là một tổ chức “vừa hỗn loạn lại vừa ổn định”. Giống như tự nhiên, Internet là một mạng lưới có trật tự của thông tin nối mạng, song tưởng như chẳng một ai chịu trách nhiệm về nó cả (Chương 1): mô thức ra lệnh-và-kiểm soát (command-and-control) giờ đây đã hoàn toàn lỗi thời và trên thực tế không còn lý do để tồn tại nữa.

Và cuộc cách mạng giản dị song thật vĩ đại: cuộc cách mạng trong quan niệm về trí thông minh: năm 1983, giáo sư tâm lý học Howard Gardner thuộc Đại học Harvard đã công bố thuyết trí khôn đa thành phần. Trong cuốn Frames of Mind – The Theory of Multiple Intelligences (Cơ cấu trí khôn – Thuyết trí khôn đa thành phần) được xuất bản năm 1984, ông đã đưa ra bảy dạng trí khôn: (1) trí khôn ngôn ngữ (linguistic); (2) trí khôn logic-toán học (logic-mathematic); (3) trí khôn thị giác-không gian (visual-space); (4) trí khôn âm nhạc (musical); (5) trí khôn cơ thể-vận động (bodily-kinesthetic); (6) trí khôn hướng ngoại (interpersonal); (7) trí khôn hướng nội (intrapersonal). Năm 1996, Howard Gadner đã bổ sung hai dạng trí khôn: (8) trí khôn thiên nhiên (naturalist) và (9) trí khôn sinh tồn (existential).

Thuyết trí khôn đa thành phần đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm về trí thông minh. Trong mỗi một đứa trẻ đều tồn tại nhiều dạng trí thông minh, nhưng mỗi đứa trẻ có một dạng trí thông minh ưu trội – tức mặt mạnh của mỗi cá nhân. Không có đứa trẻ nào thông minh hơn đứa trẻ nào, chỉ có điều mỗi đứa trẻ thông minh theo cách khác nhau, và trẻ em học tốt nhất dựa vào trí thông minh ưu trội của mình.

Thuyết trí khôn đa thành phần còn góp phần xoá bỏ những ngộ nhận đã tồn tại dai dẳng trong giáo dục và cả trong cuộc sống: (1) Tất cả chúng ta chỉ có một cách học tập tốt nhất và cách học đó là như nhau cho tất cả; (2) trí thông minh là cái được ấn định từ khi mỗi người được sinh ra và có thể xác định được trí thông minh bằng các đo nghiệm I.Q; (3) chỉ có duy nhất một dạng trí thông minh; và (4) trí thông minh được đồng nhất với tư duy logic-phân tích.

Có lẽ phát kiến tồi tệ nhất trong lĩnh vực giáo dục của thế kỷ XX chính là các bộ đo thương số trí thông minh – I.Q (Chương 4). Sai lầm lớn nhất của đo nghiệm I.Q nằm ở chỗ chúng lẫn lộn trí thông minh logic-toán học với trí thông minh chung của một người. Mặt khác, cách kiểm tra, cách đánh giá và cách khen thưởng của nhà trường đều chỉ chủ yếu tuyên dương dạng trí khôn này. Vì thế mà người ta thường đánh đồng thông minh với chỉ duy giỏi toán!

Như vậy, thay vì “không để bất kỳ trẻ em nào bị bỏ rơi” thì có thể thấy trước rằng nhà trường sẽ chắc chắn bỏ rơi hàng triệu trẻ em (Chương 3).

Hai tác giả của Cách mạng học tập kêu gọi một sự thay đổi trường học và giáo dục và thay đổi ngay lập tức. Động lực để tạo sự thay đổi là các cuộc cách mạng đang diễn ra theo hướng hội tụ với nhau, trong đó có cuộc cách mạng Web 2.0. Khác với quan niệm của Thung lũng Silicon, hai tác giả cho rằng Web 2.0 không đơn thuần như thể là một phiên bản nâng cấp của một phần mềm nào đó. Web 2.0 thực sự là một triết lý mới: giờ đây, một sự thay đổi được khởi phát từ những cá nhân ở cấp cơ sở (grassroots) có thể làm thay đổi toàn bộ hệ thống giáo dục (Chương 10) – thay đổi không diễn ra từ trên xuống mà là từ dưới lên: sự cá nhân hoá đại chúng (mass personalization) (Chương 11). Nhờ Web 2.0, khi một thay đổi đi đến điểm tới hạn (tipping point), thì sự thay đổi đó dù rất nhỏ cũng có thể làm thay đổi toàn bộ hệ thống giáo dục. Tác giả Gordon Dryden có niềm tin vững chắc như vậy cũng là điều dễ hiểu: đất nước New Zealand của ông cách đây hai mươi năm đã giải tán Bộ Giáo dục Quốc gia, giải tán các Khu học chính (tương đương với các sở giáo dục của Việt Nam), chuyển đổi toàn bộ các trường học, dù công lập hay trường tư, thành trường bán công và ban giám hiệu của mỗi trường sẽ do phụ huynh, giáo viên và học sinh bầu ra: các ban giám hiệu sẽ là những tác nhân thay đổi (Chương 12).

Năm 2006, Gordon Dryden đã được Đại học Phát triển Công nghệ Arizona trao tặng bằng tiến sĩ danh dự vì những đóng góp cho công nghệ giáo dục (educational technology).

Trước đó gần 30 năm, vào năm 1978, công nghệ giáo dục (educational technology) hiểu theo nghĩa hoàn toàn khác đã xuất hiện tại một đất nước nằm ở nửa kia của trái đất – đất nước Việt Nam – do một người Việt Nam phát biểu thông qua một công trình thực nghiệm giáo dục phổ thông mà ông là người hiệu trưởng đầu tiên: Giáo sư Tiến sĩ Tâm lý học Hồ Ngọc Đại. Cái công nghệ giáo dục “khác” kia, mà giờ đây đã trở thành một danh từ riêng viết tắt của giáo dục Việt Nam – CGD – là khác về nền tảng lý luận. Trong khi công nghệ giáo dục theo cách hiểu của Cách mạng học tập liên quan chủ yếu đến ứng dụng công nghệ truyền thông tương tác - đa phương tiện vào dạy và học thì Công nghệ Giáo dục của Hồ Ngọc Đại tập trung vào tâm lý học giáo dục – những gì diễn ra bên trong học sinh – để tạo ra một quy trình dạy học dựa trên đường lối thầy thiết kế - trò thi công - một quy trình có thể hoàn toàn không cần đến bất cứ “công nghệ” nào hiểu theo nghĩa đen của từ này, mặc dù ngay chính chữ “công nghệ” của Hồ Ngọc Đại rủi thay đã từng gây ra không ít hiểu lầm hoặc cố tình hiểu lầm! John Dewey, nhà giáo dục người Mỹ, mà ở Hồ Ngọc Đại có lẽ chúng ta có thể tìm thấy nét tương đồng về triết lý giáo dục, đã viết: Lịch sử của giáo dục là lịch sử của những đối chọi về lý luận (history of education is one of theoretical opposites), John Dewey (1859-1952), Experience and Education (Kinh nghiệm và giáo dục), bản tiếng Việt do Phạm Anh Tuấn thực hiện sẽ do DT Books dự kiến xuất bản trong năm 2010. Điều này quả đúng với Hồ Ngọc Đại. Công trình thực nghiệm của ông đã tồn tại trên một thế đối chọi với tư duy giáo dục lạc hậu, bảo thủ. Công trình đó đã gặp muôn vàn khó khăn, thậm chí lực đối kháng.

Một chút ngoài lề như vậy thiết tưởng là cần thiết cốt để nhấn mạnh khả năng sáng tạo của người Việt Nam: chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng tự lực dỡ ra làm lại từ đầu một nền giáo dục (lời Hồ Ngọc Đại). Để kết thúc, xin mời bạn đọc “thưởng thức trước” phát biểu của Bill Gates tại hội nghị các trường trung học của nước Mỹ năm 2005:

“Các trường trung học của nước Mỹ đã quá lạc hậu. Khi tôi nói lạc lậu tôi không nhất thiết định nói rằng nhà trường trung học của chúng ta đã đổ vỡ, rạn nứt và không được cấp đủ kinh phí – mặc dù mỗi điểm nói trên đều có thể là đúng như vậy. Khi tôi nói lạc hậu tức là tôi muốn nói rằng các trường trung học của chúng ta – ngay cả khi chúng đem lại hiệu quả đúng như mục đích đề ra – thì các trường học đó cũng không thể dạy cho con em chúng ta những gì mà chúng cần phải biết ngày hôm nay. Các trường trung học của chúng ta được thiết kế cách đây 50 năm và chúng đã đáp ứng những nhu cầu của thời đại ấy. Nếu như chúng ta không thiết kế những trường học đó để đáp ứng những nhu cầu của thế kỷ XXI, chúng ta vẫn tiếp tục ngăn cản, thậm chí đánh hỏng cuộc đời của hàng triệu người Mỹ mỗi năm. Đó không phải một sự cố hoặc một thiếu sót trong hệ thống: chính bản thân hệ thống cần phải được thay đổi (Chương 9).

Hi vọng quan niệm về thế nào là “thay đổi” của người sáng lập tập đoàn Microsoft và thông điệp của Cách mạng học tập sẽ đến được những ai có trách nhiệm với công cuộc cải cách nền giáo dục của nước nhà.

PHẠM ANH TUẤN

Hà Nội, 2009 

Mục lục 

Lời người dịch

Gordon Dryden tự giới thiệu

     Tôi đã bỏ học ở tuổi 14 và rốt cuộc đã viết cuốn sách 
     bán chạy nhất về chủ đề học tập

Jeannette Vos tự giới thiệu                          

     Một giáo viên thất vọng với nền giáo dục 
     và đã dành bảy năm để nghiên cứu một cách làm khác    

Lời tựa của Gordon Dryden                                   

     Chào mừng đến thế giới của khả năng tiếp cận 
     không giới hạn những cơ hội vô hạn

Lời tựa của Jeannette Vos

     Công nghệ càng phát triển thì con người lại càng cần có 
     sự cân bằng thể xác-tâm hồn

Lời giới thiệu            

     Cuộc cách mạng mới nhất trong lịch sử và 
     bảy chìa khóa để mở nó

     1. Khả năng cá nhân hóa   

     2. Khả năng tương tác      

     3. Tính toàn cầu                                                                                    

     4. Khả năng truyền thông tức thời

     5. Chủ yếu là miễn phí      

     6. Dễ dàng chia sẻ             

     7. Sáng tạo cộng đồng       

PHẦN MỘT: TƯƠNG LAI

Chương 1: Hội tụ các cuộc cách mạng                   

Bảy cách thức Web 2.0 đang làm thay đổi tương lai của tất cả, 
tại bất cứ nơi nào

     Định luật Moore và Định luật Metcalfe                

     Hội tụ các cuộc cách mạng                                   

     1. Tính toàn cầu     

     2. Tính tức thời, dù bạn ở bất cứ nơi nào, vào bất kỳ lúc nào      

     3. Tính chất mở, miễn phí hoặc hầu như miễn phí                        

     4. Tính di động và cá nhân                        

     5. Tương tác và vui                                   

     6. Đồng sáng tạo: kỷ nguyên của sáng tạo đại chúng       

     7. Dễ dàng chia sẻ - với hàng triệu người                         

Chương 2: Cuộc cách mạng nối mạng                               

Một nền tảng mới của giáo dục trong thế giới nối mạng  

     Một số bài học lịch sử                   

     Nền tảng mới của học tập             

     Bảy mạng học tập liên kết với nhau                      

     1. Mạng gen và thần kinh bên trong bạn               

     2. Mạng học tập cá nhân                           

     3. Các mạng thông tin tương tác mới                               

     4. Mạng sáng tạo của bạn                          

     5. Mạng tài năng của bạn                          

     6. Các mạng tổ chức kiểu mới      

     7. Các mạng học tập toàn cầu kiểu mới                

PHẦN HAI: TƯƠNG LAI CỦA BẠN                                          

Chương 3: Cuộc cách mạng tài năng                     

Cách phát triển tài năng độc nhất của riêng bạn 
dựa vào tự nhiên, nuôi dưỡng và các nơ-ron thần kinh
 

     Cấu trúc cơ bản của bộ não người            

     Điều gì làm cho mỗi cá nhân khác với những người khác            

     Các mạng chính của bộ não                      

     1. Các mạng giác quan                  

     2. Mạng truyền dẫn                                   

     3. Mạng cơ thể                              

     4. Các mạng xúc cảm, tình cảm                

     5. Các mạng xã hội                        

     6. Mạng đồng hồ sinh học                         

     7. Các mạng tư duy                                   

     Cách giải phóng khả năng vô hạn của bộ não                   

Chương 4: Mỗi người có một cách lĩnh hội riêng             

Cách tìm ra phong cách học tập và dựa vào tài năng độc nhất của bạn

     Mô hình trí khôn đa thành phần của Howard Gardner                 

     Trí khôn ngôn ngữ             

     Trí khôn logic - toán học               

     Trí khôn thị giác - không gian                               

     Trí khôn âm nhạc                                                   

     Trí khôn cơ thể - vận động            

     Trí khôn hướng ngoại                                

     Trí khôn nội tâm                            

     Trí khôn về thiên nhiên                             

     Trí khôn sinh tồn   

     Xác định phong cách học tập của bạn                               

     Cách bạn tiếp cận thông tin                                              

     Cách bạn tổ chức và xử lý thông tin                     

     Những điều kiện tác động tới khả năng học tập của bạn              

     Các nhu cầu cơ thể và sinh học tác động tới học tập        

     Làm thế nào để xác định được phong cách học tập 
     ưa thích của học sinh                                                                             

     Và bây giờ: hãy xác định phong cách học và 
     làm việc bằng công cụ trực tuyến                                                         

     Bốn kiểu tư duy                                        

     Những cách lưu giữ và nhớ lại thông tin  

     Những gợi ý dành cho học tập tại nhà, 
     tại trường và dành cho giáo viên                                                          

Chương 5: Học cách học                 

Cách để biết được mình có tài năng và say mê gì 
và không ngừng bổ sung kỹ năng và khả năng

     1. Hãy bắt đầu bằng các bài học của lĩnh vực thể thao                 

     2. Dám mơ ước - và tưởng tượng tương lai         

     3. Đặt ra một mục tiêu cụ thể - và đề ra những thời hạn              

     4. Nhanh chóng tìm một người thầy có nhiệt tình                        

     5. Hãy bắt đầu bằng một bức tranh tổng thể                                

     6. Đừng ngại đặt câu hỏi - và bắt đầu bằng Web                          

     7. Tìm ra nguyên lý cơ bản                        

     8. Tìm ba cuốn sách hay nhất được viết ra bởi      
     những người đã thành công trong thực tiễn                     

     9. Học cách đọc nhanh hơn, tốt hơn và dễ dàng hơn                   

     10. Dùng hình ảnh và âm thanh để tăng cường lĩnh hội               

     11. Học bằng cách thực hành        

     12. Để ghi nhớ hãy vẽ Lược đồ Tư duy
     thay vì ghi chép theo lối tuyến tính                                                       

     13. Những cách đơn giản để nhớ lại những gì bạn đã học            

     14. Học nghệ thuật của thư dãn nhưng tỉnh táo                           

     15. Thực hành, thực hành và thực hành                            

     16. Ôn lại và suy nghĩ                   

     17. Sử dụng các công cụ liên kết làm cái đánh dấu trí nhớ                      

     18. Vui vẻ, chơi các trò chơi                     

     19. Dạy người khác           

     20. Những cách tốt nhất để tìm kiếm thông tin trên Web            

Chương 6: Cuộc cách mạng sáng tạo                    

Một giáo trình tư duy sáng tạo dành cho giáo viên, 
học sinh và những nhà cách tân

     1. Xác định vấn đề của bạn                       

     2. Xác định giải pháp lý tưởng và hình dung giải pháp đó                       

     3. Thu thập mọi dữ kiện                

     4. Phá vỡ mô thức             

     5. Thoát ra khỏi lĩnh vực chuyên môn của bạn                 

     6. Hãy thử nghiệm với những sự kết hợp khác nhau                    

     7. Hãy sử dụng tất cả các giác quan                     

     8. Ngừng làm việc - hãy để cho trí óc ở trạng thái nghỉ ngơi       

     9. Dùng âm nhạc hoặc thiên nhiên để thư dãn                  

     10. Nhắm mắt lại và suy nghĩ về vấn đề đang giải quyết              

     11. Eureka! Đây rồi!                      

     12. Kiểm tra lại                  

     Dùng phương pháp tập kích não 
     [brainstorming] để tìm ra các ý tưởng                                                   

PHẦN BA: CUỘC CÁCH MẠNG 1.0                                                  

Chương 7: Cuộc cách mạng giai đoạn thơ ấu            

NHẬN XÉT SẢN PHẨM
Chưa có nhận xét gì về sản phẩm
VIẾT NHẬN XÉT
Hãy đăng nhập để viết nhận xét cho sản phẩm