Chủ nhật, Ngày 22/10/2017
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 4.967.409
Tổng số Thành viên: 1.878
Số người đang xem:  43

Jean Piaget: MỘT tiểu sử tự thuật (Phần 1)

Đăng ngày: 13/09/2017 10:19
Jean Piaget: MỘT tiểu sử tự thuật (Phần 1)
Jean Piaget: MỘT tiểu sử tự thuật chỉ có lợi ích về mặt khoa học nếu nó cung cấp những yếu tố giải thích sự nghiệp của tác giả của nó. Để đạt được mục đích này, do đó tôi sẽ tự giới hạn vào những khía cạnh thiết yếu liên quan đến tư tưởng của cuộc đời tôi.

Chắc có nhiều người tin rằng một sự giải thích như thế chẳng mang lại một giá trị gì, họ cho rằng sự giải thích mang tính hồi cố, nhuốm màu thiên vị, chưa kể những kết quả có được là sau khi đã tự nhìn vào chính mình, là không hoàn toàn đáng tin. Ấy vậy mà khi đọc lại một vài ghi chép cũ từ thời thiếu niên tôi ngạc nhiên vì hai điều tưởng như mâu thuẫn nhau thế mà khi nhìn một cách tổng thể thì chúng lại cho thấy một sự đảm bảo nào đó về tính khách quan.  Điều thứ nhất lúc đọc lại tôi đã quên toàn bộ nội dung những gì mình đã viết có phần ngây thơ hồi thiếu niên; điều thứ hai là mặc dù những trang viết ấy tỏ ra thiếu sự chín chắn, nhưng chúng báo trước một cách rõ rệt những gì tôi đã cố gắng làm trong suốt ba mươi năm sau đó.

Rất có thể có điều gì đó là sự thật trong phát biểu của Bergson. Ông nói rằng nói chung người có thiên tư triết học bao giờ cũng bị chi phối bởi một ý tưởng cá nhân duy nhất và họ cố gắng bày tỏ nó ra trong suốt cả cuộc đời mình mà không bao giờ đạt được một cách trọn vẹn. Dù bản tiểu sử tự kể này không thể nói hết được với độc giả một cách rõ nhất ý tưởng ấy ở riêng tôi là ý tưởng gì, thì ít nhất nó cũng giúp tác giả của nó tự hiểu chính mình tốt hơn.

Giai đoạn 1896-1914

Tôi sinh ngày 9 tháng 8 năm 1896 tại Neuchâtel, Thụy Sĩ. Cha tôi viết rất nhiều sách và ông chủ yếu viết về văn học trung đại. Ông chỉ viết rất ít ỏi viết về lịch sử của Neuchâtal. Ông là một người có đầu óc phê phán và không bao giờ chịu bỏ qua những chi tiết dù nhỏ nhặt. Ông không thích những kết luận khái quát hóa một cách hấp tấp. Ông không ngần ngại tranh luận nếu thấy chỉ vì tôn trọng các truyền thống mà người ta có thể bóp méo sự thật lịch sử. Ông đã dạy tôi rất nhiều điều, trong đó có giá trị của lao động một cách có hệ thống, ngay cả trong những chi tiết. Mẹ tôi là một người rất thông minh, có nghị lực, một con người có lòng tốt thực sự. Nhưng bà là người có tính khí dễ bị khích động, vì thế bà thường làm cho không khí gia đình khá nặng nề. Hậu quả của tình trạng này là từ rất bé tôi đã thích làm việc nghiêm túc hơn là chơi đùa. Chủ yếu là vì muốn bắt chước cha tôi, song cũng còn là để trốn vào cái thế giới tưởng tượng riêng tư của bản thân.  Phải nói thật là xưa nay tôi luôn ghét mọi sự trốn chạy khỏi thực tế. Thái độ trốn chạy này, nó đã ảnh hưởng tới thời thơ ấu của tôi, có nguyên nhân từ tính khí bất ổn định của mẹ tôi. Khi tôi bắt đầu nghiên cứu tâm lý học, mẹ tôi đã chỉ đạo tôi nên quan tâm tới những vấn đề của môn tâm phân học và tâm lý bệnh học. Mặc dù tôi chưa bao giờ đi xa theo hướng này, tôi thích nghiên cứu những trường hợp bình thường, thích nghiên cứu sự hoạt động của trí năng, hơn là sự hoạt động của cái vô thức.

Từ bảy đến mười tuổi tôi thích lần lượt nhiều thứ, thích cơ khí, chim chóc, hóa thạch, vỏ sinh vật biển. Vì ngày ấy trẻ con ở tuổi tôi chưa được phép viết bút mực nên tôi dùng bút chì viết một báo cáo về phát minh lớn của mình: “ô-tô chạy bằng động cơ hơi nước” (autovap). Nhưng rồi nhanh chóng tôi quên cái phát minh kỳ cục này, nó là sự kết hợp giữa một chiếc xe ngựa và một đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước. Tôi bị cuốn hút vào việc sáng tác một cuốn sách về “Những loài chim của chúng ta”. Dựa theo nhận xét mỉa mai của cha tôi thì tôi buộc phải đáng tiếc thừa nhận rằng cuốn sách này chỉ là một sản phẩm hư cấu thuần túy.

Đến tuổi lên mười hay mười một gì đó, tức là ngay sau khi vào học trường “trung học Latinh” tôi quyết định mình sẽ phải nghiêm túc hơn. Sau một lần nhìn thấy con chim sẻ lông trắng ở trong công viên, tôi viết một bài kín một trang giấy rồi gửi cho một tạp chí về lịch sử tự nhiên ở Neuchâtal. Người ta đã đăng bài viết của tôi, tôi được “lăng-xê”! Thế rồi tôi viết thư cho ông giám đốc Bảo tàng Lịch sử tự nhiên để đề nghị ông cho phép tôi được nghiên cứu bộ sưu tập các loài chim, hóa thạch và vỏ sinh vật biển ngoài giờ mở cửa của bảo tàng. Ông giám đốc, Paul Godet, một con người đáng yêu, vừa hay lại là một chuyên gia lớn về động vật thân mềm. Ông đã ngay lập tức mời tôi hai tuần một lần đến giúp ông, ông gọi đùa tôi là “trợ lý của Tiến sĩ Faust”. Tôi đã giúp ông dán nhãn vào các bộ sưu tập động vật thân mềm, cả động vật sống dưới biển lẫn trên cạn và sống trong hồ nước ngọt. Trong suốt bốn năm, tôi đã làm công việc này như một nhà tự nhiên học tận tụy và uyên bác. Để thưởng cho tôi, sau mỗi một đợt ông lại tặng tôi một số hóa thạch các loài động vật thân mềm hiếm cho bộ sưu tập riêng của tôi. Ông còn chỉ cho tôi biết cụ thể tên gọi các mẫu vật tôi đã tự mình sưu tập trước đó. Những buổi gặp gỡ hàng tuần tại thư phòng của ông giám đốc đã kích thích tôi, đến mức tôi đã quyết định dành thời gian rảnh của mình cho việc nghiên cứu các loài động vật thân mềm (ở Neuchâtal có một trăm ba mươi loài, và hàng trăm giống động vật này). Cứ chiều thứ sáu hàng tuần, tôi đứng đợi ông thầy của mình trước giờ hẹn một tiếng rưỡi!

Việc sớm làm quen với môn động vật thân mềm đã có ảnh hưởng lớn tới tôi. Năm 1911, khi ông Godet qua đời, tôi đã có vốn kiến thức kha khá về lĩnh vực này để có thể bắt đầu tự mình công bố (ngày ấy các chuyên gia trong lĩnh vực này còn rất ít ỏi) một loạt các bài báo viết về động vật thân mềm ở Thụy Sĩ, ở vùng Savoie, Bretagne, thậm chí ở Colombia. Một số “đồng nghiệp” ngoại quốc muốn gặp tôi, nhưng lúc đó tôi chỉ là một cậu học trò trung học, nên tôi không dám tự chứng tỏ mình và tôi đã buộc phải từ chối nhiều lời mời làm tôi phổng mũi. Giám đốc Bảo tàng Lịch sử tự nhiên ở Genève, ông Bedot, người trước đó đã xuất bản nhiều bài báo của tôi trên tạp chí “Revue Suisse de Zoologie” muốn nhận tôi vào tại bảo tàng với công việc bảo quản một bộ sưu tập về các loài động vật thân mềm  (trong đó có bộ sưu tập Lamarck ở Genève). Tôi đã phải hồi âm là mình còn hai năm nữa mới thi tú tài. Sau khi một tạp chí từ chối đăng một bài viết của tôi vì phát hiện ra sự thật về tuổi của tôi gây lúng túng cho họ thì tôi đã gửi bài viết đó cho ông Bedot. Ông đã vui vẻ hồi âm, lại còn đùa nữa: “Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy tổng biên tập một tạp chí đánh giá giá trị một bài viết dựa theo tuổi của tác giả. Có lẽ ông ấy chả có tiêu chí nào cả?”. Dĩ nhiên các bài viết tôi xuất bản ở tuổi này còn xa mới là hoàn hảo. Phải rất lâu sau này, đến năm 1929, tôi mới đủ khả năng viết điều gì đó một cách nghiêm túc trong lĩnh vực này.

Những nghiên cứu này, dù non nớt song rất có ích cho sự đào tạo khoa học của tôi. Hơn nữa, tôi có thể nói là những nghiên cứu này có tác dụng giống như một cái gương chiếu yêu, nó có thể chống lại con quỷ của triết học. Nhờ những nghiên cứu này, tôi đã có đặc ân hiếm hoi là bắt đầu nhận ra khoa học lấp ló ở đâu đó, đã bắt đầu nhận ra khoa học đại diện cho cái gì, trước khi tôi trải qua những cơn khủng hoảng có tính triết học của tuổi thiếu niên. Tôi tin là, việc sớm trải qua hai dạng nghi vấn trên đã làm hình thành trong tôi động cơ bí ẩn để rồi đưa tôi tới những hoạt động sau này trong lĩnh vực tâm lý học. Tôi cũng muốn nhắc lại là tôi đã vượt qua được sự khủng hoảng ở tuổi thiếu niên cũng là nhờ những thói quen tinh thần tôi học được trong những tiếp xúc đầu đời của tôi với môn động vật học.

Năm tôi khoảng mười lăm tuổi tôi đã gặp phải vấn đề liên quan đến tôn giáo. Mẹ tôi là một tín đồ Tin lành kiên trung. Bà kiên quyết bắt tôi phải làm theo cái điều mà ở Neuchâtal người ta gọi là “giáo dục tôn giáo”, tức là phải theo học một lớp sáu tuần về những giáo lý căn bản của đạo Kitô.  Cha tôi, ngược  lại, không bao giờ đi lễ nhà thờ. Tôi cảm nhận ngay được là đối với ông đức tin hiện hành và thái độ trung thực trước thời cuộc là không thể hòa hợp với nhau. Do đó tôi đã theo học “giáo dục tôn giáo”, một cách nhiệt tình song đồng thời với một ý thức phê phán tỉnh táo. Có hai điều thời ấy gây cho tôi sự ngạc nhiên sững sờ: một mặt là sự gay go khi muốn dung hòa giữa một số giáo điều và lĩnh vực sinh vật học; mặt khác có sự mong manh của “5 luận cứ chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế”. Người ta đã dạy cho tôi 5 luận cứ, và tôi đã vượt qua 1 kỳ kiểm tra! Mặc dù tôi không hề nghĩ đến việc phủ định sự hiện hữu của Thượng đế, song việc người ta có thể lập luận về những luận cứ vô cùng mong manh ấy đã khiến tôi thấy vô cùng kỳ cục. Lại càng kỳ cục hơn khi ông linh mục của tôi là một người thông minh, bản thân ông cũng quan tâm tới các môn khoa học tự nhiên!

Ở giai đoạn này tôi đã may mắn tìm thấy trong thư viện của cha tôi một tác phẩm của Auguste Sabatier về triết học tôn giáo đi từ nền tảng tâm lý học và lịch sử. Tôi đã đọc ngấu nghiến cuốn sách này với một niềm thích thú vô cùng. Những giáo điều đã được qui về thành chức năng của những “biểu trưng”, chúng tất yếu không trọn vẹn, và trên hết là ý niệm về sự “tiến hóa của những giáo điều”. Ngôn ngữ của Sabatier rất dễ hiểu và đem lại sự thỏa mãn tinh thần cho tôi. Một đam mê mới mẻ xâm chiếm tinh thần tôi: triết học.

Sau đó tôi đã trải qua một khủng hoảng thứ hai, gần như cùng giai đoạn này. Cha đỡ đầu của tôi, Samuel Cornut, rủ tôi đi nghỉ cùng ông tại hồ Annecy. Tôi vẫn còn nhớ kỷ niệm tuyệt vời về chuyến đi này: chúng tôi đi dạo, đi câu cá, tôi thì đi tìm những động vật thân mềm và viết một bài sau đó đăng trên tạp chí khoa học của vùng Savoie. Nhưng cha đỡ đầu của tôi rủ tôi đi cùng là có mục đích. Ông nhận thấy tôi sớm đi vào con đường của một “chuyên gia” nên ông muốn dạy tôi triết học. Trong những lần đi sưu tập động vật thân mềm, ông nói với tôi về khái niệm tiến hóa sáng tạo của Bergson. Lần đầu tiên tôi được nghe nói về triết học bởi một người không phải là một nhà thần học. Phải thừa nhận đây là một cú sốc rất lớn đối với tôi.

Lần thứ nhất là cú sốc về tình cảm. Tôi vẫn còn nhớ đó là vào một buổi chiều trong tâm hồn tôi chợt như có một sự giống như mặc khải: sự đồng nhất giữa Thượng đế và Sự sống. Ý tưởng này đã làm tôi xúc động, nó giống như một cơn xuất thần, và ngay lúc ấy tôi nhận ra rằng có thể tìm thấy trong sinh vật học sự giải thích về mọi điều, ngay cả sự giải thích về chính tinh thần con người.

Lần thứ hai là cú sốc về tư tưởng. Vấn đề về sự nhận thức, đúng ra là vấn đề khoa học về nhận thức (épistémologie) bỗng xuất hiện ra trong một viễn kiến hoàn toàn mới mẻ, và tôi thấy đây là một chủ đề nghiên cứu hấp dẫn. Tôi đã quyết định dành cả đời mình cho nghiên cứu về nhận thức đi từ sự lý giải sinh vật học.

Vài tháng sau tôi mới đọc tác phẩm Tiến hóa sáng tạo của Bergson (tôi có thói quen suy nghĩ một vấn đề trước khi đọc sách về chủ đề có vấn đề ấy) đã làm vững thêm quyết định của tôi. Thế nhưng tôi đã hơi thất vọng. Thay vì tìm thấy câu trả lời cuối cùng ở KHOA HỌC, như cha đỡ đầu của tôi trước đó đã chuẩn bị cho tôi, thì khoa học lại khiến tôi có cảm tưởng là nó giống như một công trình xây dựng bị dỡ bỏ cái móng thực nghiệm: giữa sinh vật học và việc nghiên cứu về nhận thức con người tôi cần một cái gì đó thêm nữa chứ không chỉ là triết học. Tôi tin là lúc ấy tôi đã phát hiện ra một nhu cầu và nhu cầu ấy chỉ có thể được thỏa mãn bằng môn tâm lý học. 

Giai đoạn 1914-1918 

Năm 1915 tôi đỗ tú tài. Tôi thấy đọc sách nhiều không đem lại cho tôi sự thỏa mãn. Tôi bắt đầu ghi lại những ý tưởng của riêng mình vào rất nhiều cuốn sổ. Làm việc nhiều đã ảnh hưởng tới sức khỏe. Tôi phải đi nghỉ một năm ở vùng núi. Trong thời gian này để khỏa lấp thời gian nhàn rỗi tôi đã viết một tiểu thuyết triết học[2] và khá liều lĩnh khi công bố nó năm 1917. Giờ đây khi đọc lại những gì tôi viết trong giai đoạn khủng hoảng ở cuối tuổi thiếu niên, mà tôi đã quên hoàn toàn cho tới khi mở ra xem lại để viết tiểu sử tự thuật này, tôi đã ngạc nhiên khi tình cờ tìm thấy hai ý tưởng cho tới lúc này tôi vẫn tâm đắc và chúng đã luôn dẫn dắt tôi trong nhiều công việc khác nhau. Vì thế, dẫu rằng thoạt nhìn tôi có vẻ như kẻ vô ơn song tôi vẫn cứ thử tìm lại hai ý tưởng tôi đã có từ thuở thiếu thời này. 

Sau cuộc tiếp xúc bất hạnh với triết học của Bergson, tôi bắt đầu đọc mọi thứ tôi tình cờ có trong tay: Kant, Spencer, Auguste Comte, Fouillée và Guyau, Lachelier, Boutroux, Lalande, Durkheim, Tarde, Le Dantec. Sách tâm lý học: William James, Th. Ribot và Janet. Ngoài ra hai năm cuối trung học chúng tôi được học môn tâm lý học, lôgic học và phương pháp luận khoa học. Thầy chúng tôi là nhà triết học lôgic A. Reymond. Nhưng ngày ấy ở Neuchâtel và thậm chí ở trường đại học chúng tôi không có phòng thí nghiệm và cũng không có ai hướng dẫn cho nên điều duy nhất chúng tôi có thể làm là học lý thuyết và viết. Tôi viết nhiều, dù chỉ là cho riêng mình, bởi lẽ tôi không thể suy nghĩ mà không viết. Tôi đã viết một cách có hệ thống, như thể tôi sẽ gửi tới các tạp chí để xuất bản.

Bài tiểu luận đầu tiên, vẫn còn thô sơ, được tôi kiêu ngạo đặt cho nó đầu đề “Phác thảo về một thuyết hành dụng mới” [Esquisse d’un néopragmatisme]. Tôi đề xuất một ý tưởng và hiện nay đây vẫn là một ý tưởng có tính trung tâm đối với tôi, đó là, mỗi hành động đều chứa đựng trong nó một lôgic (điều này trái với thái độ chống lại thuyết duy trí [anti-intellectualisme] nơi James và Bergson) và do đó lôgic có nguồn gốc ở một sự tổ chức tự phát các hoạt động. Song vẫn còn thiếu mối kết nối với sinh vật học. Một bài giảng của Reymond về thuyết duy thực [réalisme] và thuyết duy danh [nominalisme] trong khuôn khổ những vấn đề về các “ý niệm phổ biến” [universal[3]] làm tôi thức tỉnh. Trước đó tôi vẫn nghĩ tới vấn đề “giống loài” trong môn động vật học và tôi đã chọn một quan điểm thuần túy duy danh luận: mỗi loài [espèce] không có bất cứ thực tại tự mình nào [réalité en soi] và nó chỉ được phân biệt với các “giống” [variété] đơn giản thông qua một tính ổn định hơn. Song quan điểm lý luận này, chịu ảnh hưởng từ thuyết Lamarck, đã khiến tôi lúng túng trong công việc có tính thường nghiệm (ví dụ: phân loại các động vật thân mềm). Tranh cãi giữa Durkheim và Tarde về sự tồn tại thực tế [réalité] hay phi-thực tế [non-réalité] của mỗi xã hội với tư cách tổng thể có tổ chức càng khiến tôi bối rối hơn. Thoạt đầu tôi không thuyết phục được mình về tính xác đáng khi đem vấn đề tranh luận này [về xã hội] vào giải quyết vấn đề về “loài động vật”. Ngoài điều này ra thì nói chúng thuyết duy thực và thuyết duy danh cho tôi một cái nhìn tổng thể: tôi bỗng hiểu là tại mọi cấp độ (tế bào, sinh thể hữu cơ, loài, các khái niệm, các nguyên tắc lôgic v.v.) ta đều tìm thấy cùng vấn đề như nhau: các mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể. Kể từ sau đó tôi vững tin là mình đã tìm thấy giải pháp. Rốt cuộc xuất hiện ra sự kết hợp chặt chẽ mà tôi vẫn từng mơ tới: giữa triết học và sinh vật học, và lúc này tôi thấy khả năng về một khoa học về nhận thức [épistémologie] thực sự là khoa học!

Do đó, tôi đã bắt đầu viết ra ý tưởng có tính hệ thống của riêng mình (có người tự hỏi tôi lấy đâu ra thời gian để viết, nhưng tôi viết bất cứ lúc nào có thể, nhất là trong những lúc ngồi trong lớp nghe những bài giảng chán ngắt!). Giải pháp của tôi rất đơn giản: trong mọi lĩnh vực của sự sống (sự sống hữu cơ, tinh thần, xã hội) có tồn tại những cái “toàn thể” [totalité; totality], chúng được phân biệt một cách định tính với những cái bộ phận của chúng và chúng áp đặt cho cái bộ phận một  cấu trúc có “tổ chức” [organisation]. Do đó, không tồn tại những “yếu tố” cô lập. Sự tồn tại thực tế của mỗi yếu tố đều tất yếu phụ thuộc vào một cái toàn thể qua đó nói cho ta biết cái yếu tố ấy. Song, mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận lại biến đổi từ một cấu trúc này sang một cấu trúc khác, bởi lẽ cần phải phân biệt bốn sự biến đổi bao giờ cũng diễn ra ở trong quá trình biến đổi này: sự tự biến đổi của cái toàn thể (sự bảo toàn [conservation], sự biến đổi của cái toàn thể tác động lên các bộ phận (biến đổi đồng thời bảo toàn), sự tự biến đổi của các bộ phận (sự bảo toàn), sự biến đổi của các bộ phận tác động lên cái toàn bộ (biến đổi đồng thời bảo toàn). Bốn hoạt động này tự cân bằng ở trong một cấu trúc tổng thể. Nhưng có ba khả năng cân bằng: (1) ưu thế của cái toàn thể cùng với sự biến đổi của các bộ phận; (2) ưu thế và sự tự biến đổi của các bộ phận; (3) sự bảo toàn lẫn nhau giữa một bên là các bộ phận và một bên là cái toàn thể. Ngoài ra còn có một quy luật có tính nền tảng: chỉ hình thái cân bằng (3) mới là “ổn định” hay là “tốt” trong khi hai khả năng kia, (1) và (2), là ít ổn định hơn, mặc dù vẫn có khuynh hướng đi tới tính ổn định, song mọi sự còn phụ thuộc vào những trở ngại gặp phải. 

Nếu giai đoạn này (1913-1915) tôi được biết đến các công trình của Wertheimer và Köhler[4] tôi có lẽ đã trở thành một nhà tâm lý học Gestalt, song sau khi chỉ đọc các tác phẩm của trường phái Pháp và vẫn chưa hình dung được những thực nghiệm để kiểm chứng các giả thuyết nói trên, cho nên tôi giới hạn vào việc xây dựng cho mình một hệ thống lý luận riêng. Việc đọc lại những bài viết cũ của mình có vẻ như có lợi bởi vì chúng biểu thị một lược đồ báo trước những nghiên cứu của tôi về sau này: tôi đã thấy rõ là trạng thái cân bằng giữa cái toàn thể và cái bộ phận (hình thái thứ 3) tương ứng với những trạng thái ý thức có tính chuẩn định [normatif]: tức là sự cân bằng giữa tính tất yếu về lôgic hay là bổn phận đạo đức xét như đối lập với những hình thái cân bằng ở trong nội tâm, những hình thái này nói lên đặc điểm của những trạng thái ý thức đi ra ngoài sự chuẩn định [non-normatif] chẳng hạn như sự tri giác hay những sự biến đổi bên trong sinh thể hữu cơ[5]. 

Sau khi đỗ tú tài, tôi đi về miền quê nghỉ ngơi. Trong thời gian này tôi chính thức đăng ký vào học phân khoa Khoa học tự nhiên của Đại học Neuchâtel. Mặc dù tôi vẫn quan tâm tới môn động vật học, phôi thai học, địa chất, hóa-lý và toán (nhất là toán tập hợp như tôi thấy rất quan trọng trong phạm vi vấn đề về cái toàn thể và cái bộ phận) nhưng tôi muốn vào học tại một trường đại học lớn, được trang bị phòng thực nghiệm tâm lý học để tôi có thể hi vọng hiện thực hóa những thực nghiệm nhằm kiểm chứng “hệ thống” của mình. 

Đi vào lĩnh vực nghiên cứu tôi mới thấy những thói quen tinh thần mà mình học được qua tiếp xúc với môn động vật học là rất có ích. Tôi chưa bao giờ tin vào một hệ thống mà không có sự kiểm tra cụ thể bằng thực nghiệm. Tôi thấy những gì tôi đã viết hồi trung học là không xứng đáng được xuất bản, bởi lẽ đó chỉ là lý thuyết thuần túy. Giá trị duy nhất chỉ nằm ở vai trò khuyến khích tôi sau này đi vào thực nghiệm mà ngay từ khi ấy tôi đã hiểu khá rõ thực nghiệm ấy phải mang tính chất như thế nào. 

Nhưng cả năm trời tôi sống ở miền quê, tôi bị ám ảnh bởi sự ham muốn sáng tạo và tôi đã nhượng bộ sự cám dỗ này. Song, để không dính dáng gì tới lĩnh vực khoa học, tôi tránh né sự khó khăn này bằng cách viết cho công chúng rộng rãi chứ không phải cho giới chuyên gia, một tiểu thuyết triết học. Phần cuối của cuốn tiểu thuyết này chứa đựng những ý tưởng của tôi (năm 1917)[6]. Chiến lược này của tôi tỏ ra có hiệu quả: chẳng ai nói về cuốn tiểu thuyết này ngoại trừ một hoặc hai nhà triết học nổi cáu. 

Giai đoạn 1918-1921

Sau khi lấy bằng tiến sĩ khoa học tôi chuyển tới Zurich (năm 1918) với ý định làm việc tại một phòng thí nghiệm tâm lý học. Tôi thường lui tới hai nơi: phòng thí nghiệm của G. E. Lipps và của Wreschner, và ngoài ra là phòng khám của bác sĩ thần kinh Bleuler. Tôi cảm thấy ngay mình đang đi đúng đường. Vận dụng những thói quen tinh thần tôi đã học được hồi nghiên cứu động vật học, tôi đã giải quyết được những vấn đề về cái toàn thể và cái bộ phận, mà trước đây tôi chỉ suy tưởng trên phương diện triết học. Song, thú thực lúc đầu tôi đã hơi thất vọng. Các thực nghiệm của Lipps và Wreschner ít có quan hệ với những vấn đề nền tảng. Mặt khác, việc khám phá môn tâm phân học (đọc Freud và đọc tạp chí “Imago”, thỉnh thoảng dự giờ Pfister và Jung giảng và học hỏi từ Bleuler đã khiến tôi lưu ý tới mối nguy của sự trầm tư cô độc. Tôi quyết định quên đi triết học của mình vì sợ sẽ trở thành một nạn nhân của chứng “tự kỷ”.

Mùa thu năm 1919 tôi bắt xe lửa tới Paris. Tôi đã học ở Sorbonne hai năm. Tôi dự các bài giảng của Dumas về tâm lý bệnh học (sau này tôi biết cách phỏng vấn các bệnh nhân ở bệnh viện Sainte-Anne là nhờ những bài giảng này). Tôi đăng ký các “cua” của Piéron và Declacroix; tôi còn học môn lôgic học  và triết học khoa học do Lalande và Brunschvicg giảng. Phương pháp lịch sử-phê phán và sự cầu viện tới tâm lý học nơi Brunschvicg đã có ảnh hưởng lớn tới tôi. Nhưng tới lúc này tôi vẫn chưa quyết định được mình sẽ làm thực nghiệm trong lĩnh vực gì. Tôi đã gặp may. Tôi được giới thiệu với bác sĩ Simon khi ấy đang sống tại Rouen, nhưng ông được toàn quyền sử dụng một phòng thí nghiệm tại trường của Binet trên phố Grange-aux-Belles ở Paris. Thời gian này phòng thí nghiệm không hoạt động vì Binet không có lớp dạy. Bác sĩ Simon đón tiếp tôi thân mật và gợi ý tôi thử chuẩn hóa những bài viết của Burt ghi lại những lập luận của trẻ em tại Paris. Tôi bắt tay vào công việc không chút hào hứng, chỉ là để làm cái gì đó mà thôi. Nhưng tôi mau chóng thay đổi tâm trạng. Tôi bỗng nhiên là ông chủ, với cả một ngôi trường có trong tay để tùy ý sử dụng, những điều kiện làm việc không thể tốt hơn.

Ngay từ những buổi phỏng vấn đầu tiên tôi đã nhận thấy các bài trắc nghiệm của Burt có những ưu điểm nhất định xét về sự chẩn đoán. Chúng được dựa trên số lượng các câu trả lời đúng và sai. Song tôi quan tâm hơn tới việc phát hiện ra những lý do vì sao trẻ em trả lời sai. Vì thế tôi bắt đầu trò chuyện theo cách giống như bác sĩ hỏi bệnh nhân, những câu hỏi lâm sàng [clinique] nhằm mục đích khám phá điều gì đó về quá trình lập luận được thấy đằng sau những câu trả lời đúng. Tôi đặc biệt chú ý tới những lập luận che lấp những câu trả lời sai.

Tôi rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng những lập luận đơn giản nhất, những lập luận trong đó có sự liên hệ bao hàm [inclusion] một bộ phận ở trong cái toàn thể hoặc sự liên kết những mối quan hệ hoặc hơn nữa là sự “nhân bội” của các lớp [multiplication de classes [tức tìm cái bộ phận có chung của hai thực thể] đối với trẻ em cho tới 11 tuổi lại là những khó khăn mà người lớn không ngờ tới.

Mặc dù bác sĩ Simon không hoàn toàn hiểu tôi đang làm gì, tôi vẫn tiếp tục phân tích sự lập luận bằng lời nói ở những trẻ em bình thường ở độ tuổi lên 2. Tôi đặt những câu hỏi khác nhau, đưa ra những tình huống có các mối quan hệ nhân quả đơn giản và cụ thể. Ngoài ra tôi còn được phép làm việc với những trẻ em bất bình thường ở bệnh viện Salpêtrière. Ở đây tôi tiến hành những nghiên cứu về sự hình thành ý niệm số [nombre; number] bằng cách áp dụng các phương pháp thao tác trực tiếp bằng đôi tay cũng như phương pháp trò chuyện. Kể từ sau đó tôi đã bắt đầu cộng tác trở lại với A. Szeminska.

Cuối cùng tôi tìm thấy lĩnh vực nghiên cứu của mình. Thứ nhất, tôi thấy lý thuyết về các mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể là có thể được nghiên cứu một cách thực nghiệm thông qua việc phân tích các quá trình tâm lý ở bên dưới những thao tác lôgic. Điều này đánh dấu sự kết thúc giai đoạn lý thuyết của tôi và mở đầu một giai đoạn thực nghiệm tâm lý học mà tôi vẫn muốn đi sâu vào, song cho tới khi đó tôi chưa tìm ra những vấn đề thích hợp. Những quan sát của tôi đều minh chứng rằng lôgic không phải là bẩm sinh, mà nó tự phát triển dần dần, điều này dường như phù hợp với những ý tưởng của tôi về sự hình thành sự cân bằng [équilibre] mà các cấu trúc tinh thần có khuynh hướng đi tới. Ngoài ra, khả năng được nghiên cứu trực tiếp vấn đề của lôgic phù hợp với các mối quan tâm triết học của tôi trước đó. Cuối cùng, mục đích của tôi là khám phá một môn có thể gọi là “phôi thai học” về trí khôn đi từ sự đào tạo của tôi về sinh vật học. Ngay từ ban đầu, trong những suy tư lý luận của mình tôi đã tin chắc rằng vấn đề mối tương quan giữa sinh thể hữu cơ và môi trường cũng được đặt ra trong lĩnh vực của sự nhận thức. Khi ấy tôi thấy đây là vấn đề của mối tương quan giữa chủ thể hành động, chủ thể tư duy và đối tượng của kinh nghiệm của chủ thể. Nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh tâm lý [psychogenèse; psychogenesis] cho tôi cơ hội nghiên cứu vấn đề này.

Tôi đã có được những kết quả đầu tiên qua ba bài viết. Tôi vận dụng nguyên tắc về tính song đôi lôgic-tâm lý [parallélisme[7]] để phân tích các sự kiện tâm lý và lôgic: tâm lý học lý giải các sự kiện này trên phương diện quan hệ nhân quả còn lôgic học xử lý các mệnh đề đúng, mô tả các hình thái tương ứng [giữa lôgic và tâm lý] trên phương diện trạng thái cân bằng lý tưởng. Từ ngày ấy tôi đã trình bày mối quan hệ này, tôi đã nói rằng lôgic học[8] là một khoa học về các tiên đề [axiomatique], trong khi khoa học thực nghiệm [science expérimentale] tương ứng với nó lại là tâm lý học về tư duy [psychologie de la pensée].

Sau bài viết thứ ba, mà tôi gửi cho Ed. Claparède, người tôi chỉ gặp mặt duy nhất có một lần, ông đã đăng trên “Archives de Psychologie”, sau đó ông cũng đăng tại đây một bài nữa của tôi. Sau khi đăng bài của tôi, ông đã đưa cho tôi một đề nghị làm thay đổi hướng đi của đời tôi. Ông đề nghị tôi đảm nhận vị trí “giám đốc phụ trách các công trình nghiên cứu” tại Viện J. J. Rousseau ở Genève. Vì ông mới chỉ biết tôi sơ qua nên ông đề nghị tôi thử việc một tháng. Viễn cảnh này làm tôi mừng rơn, vì tiếng tăm của Claparède lẫn vì những cơ hội tuyệt vời để nghiên cứu. Tôi rời Paris để tới Genève. Nhận xét đầu tiên của tôi là Claparède và Bouvet là hai ông chủ tuyệt vời. Họ để tôi tự do làm việc theo ý thích của mình. Công việc của tôi chỉ đơn giản là hướng dẫn các nhà nghiên cứu và tổ chức các nhóm nghiên cứu theo đề nghị của họ và nhóm nghiên cứu tâm lý học trẻ em, theo đề nghị của tôi.

(Người dịch: Phạm Anh Tuấn)

Còn tiếp.

Chú thích:

[1] Tiểu sử tự thuật này được Piaget viết làm ba đợt. Lần thứ nhất Piaget viết năm 1950 theo yêu cầu của GS. Edwin G. Boring (giai đoạn từ năm1896 đến  1950) để đưa vào tập IV quyển A History of Psychology in Autobiography (Lịch sử tâm lý học qua các tiểu sử tự kể) được xuất bản bởi Worcester, Clarj University Press, 1952 (tr. 237-256). Giai đoạn 1950-1966 được bổ sung sau đó để đưa vào tuyển tập Jean Piaget et les sciences sociales (Genève, Droz, 1966, tr. 129-159) trong Cahiers Vilfredo Pareto, n0 10. Giai đoạn 1966-1976 được Piaget viết năm 1976. Piaget mất năm 1980 (nguồn: Fondation Piaget pour recherches psychologiques et épistémologiques do Piaget sáng lập năm 1976).

[2] Cuốn tiểu thuyết nhan đề La Recherche do nhà xuất bản Concorde tại Lausanne xuất bản năm 1918.

[3] Một ý niệm “phổ biến” là ý niệm có thể áp dụng một cách phổ biến. Ví dụ: ý niệm “đỏ”. Vấn đề đặt ra là các ý niệm phổ biến có hiện hữu hay không. Chẳng hạn, “tính chất đỏ” (redness) có hiện hữu hay chỉ có những vật cá biệt có màu đỏ mới hiện hữu? Các triết gia thời Trung đại tin rằng “tính chất đỏ” có sự hiện hữu thực tế, họ được gọi là những nhà “duy thực” (réaliste), còn các triết gia chủ kiến rằng “tính chất đỏ” chỉ là một tên gọi, một từ (tiếng Pháp: mot; tiếng Anh: word). Họ được gọi là những nhà “duy danh luận” (tiếng Pháp: nominaliste; tiếng Anh: nominalist) (Các chú thích ở cuối trang đều của người dịch trừ phi được nói rõ là trong nguyên bản).

[4] Max Wertheimer (1880-1843) và Kurt Koffka (1886-1941) hai nhà tâm lý học người Đức sáng lập tâm lý học Gestalt. “Gestalt”, tiếng Đức, tương đương với “shape” trong tiếng Anh, có nghĩa là hình thái của sự vật xuất hiện ra với ý thức. “Hình thái” khác với “hình thức” (forme; form” là cái đối lập với “nội dung” (contenu; content).

[5] Trạng thái chuẩn định (normatif) là trạng thái “ổn định” (xét theo từng giai đoạn phát triển). Trạng thái đi ra ngoài sự chuẩn định (non-normatif) là trạng thái “mất cân bằng”. Ở trạng thái chuẩn định, chủ thể nhận thức được tính tất yếu lôgic. Ví dụ: A > B và B > C, A tất yếu > C. Tính tất yếu lôgic biến đổi theo từng giai đoạn. Như vậy, có sự tiến hóa của những tiêu chuẩn của tư duy thông qua những hình thái của tính tất yếu. (… chúng ta cần phân biệt hai sự kiện tâm lý: một mặt là những sự kiện của ý thức xét từ điểm nhìn của chủ thể và nó mang tính đồng đại hay tĩnh trạng (statique), tức trình độ phát triển hiện tồn và độc lập với chủ thể, và mặt khác có những sự được biểu hiện qua sự hành xử xét từ điểm nhìn của nhà quan sát, tức những sự kiện mang tính lịch đại và sinh triển (génétique), tức phụ thuộc vào sự phát triển (Piaget, Nhận thức luận sinh triển).

[6] Cuốn tiểu thuyết có đầu đề La Recherche, do nhà xuất bản Concorde tại Lausanne xuất bản năm 1918.

[7] Quan điểm có tính triết học được nhiều nhà tâm lý học lựa chọn, trong đó có Claparède (được nói tới ở ngay dưới), theo đó có các mối quan hệ giữa nghiên cứu sinh lý học và nghiên cứu tâm lý học, và sau này là với nghiên cứu tâm lý học (tức là nghiên cứu các hiện tượng tâm trí hay “ý thức”). Do đó, có thể xảy ra đồng thời một thứ tất định luận của sinh thể hữu cơ và một tất định luận của tâm lý, và cả hai phương diện này có thể được theo dõi một cách độc lập mà không có các mối quan hệ nhân quả giữa chúng.

[8] Trong tất cả các lĩnh vực Piaget nghiên cứu thì lôgic học là lĩnh vực người ta thấy khó bàn nhất. Bởi lẽ, thứ nhất, vấn đề lôgic được Piaget nghiên cứu hoàn toàn khác với đường lối của môn lôgic học thời ông. Bản thân Piaget cũng tự nhận mình không phải là một nhà lôgic học chuyên nghiệp. Quyển Traité de logique [Luận văn về lôgic] ông miễn cưỡng xuất bản năm 1949 theo yêu cầu của nhà xuất bản (đầu đề gốc của ông là Essai de logique opératoire: Tiểu luận về lôgic thao tác) đã bị giới nghiên cứu lôgic chuyên nghiệp chỉ trích khá nhiều. Piaget, ở lời nói đầu cuốn sách này, cũng đã viết “Nhà lôgic học thực thụ nào cũng tìm thấy ở trong sách này những lỗ hổng”. Vả lại, vào những năm 1940 việc nghiên cứu lôgic học trong giới đại học Pháp ngữ quả có chậm hơn so với giới nghiên cứu ở các nước Anh-Mỹ lúc này đã rất phát triển, nối tiếp đường lối vạch ra kể từ Frege và Roussel – lôgic học trở thành một môn khoa học tự trị, cắt sợi dây liên kết với tâm lý học (thuyết duy lôgic: logicisme; logicism). Piaget, trái lại, muốn tìm nguồn gốc phát sinh (genèse) của lôgic ở trong tư duy tự nhiên [pensée naturelle], tức ở trong nguồn gốc sinh triển của tư duy trẻ em. Theo Piaget (và Inhelder, nữ cộng sự thân thiết nhất của ông trong 50 năm), thao tác lôgic chỉ phát triển vào sau giai đoạn tiền-thao tác (tức sau 6-7 tuổi).

[9] Mượn từ một thuật ngữ sinh vật học: sự xuất hiện của một cơ quan tiến hóa hơn.

[10] Le langage et la pensée de l’enfant (năm 1924). Le jugement et le raisonnement chez l’enfant (1924). La Représentation du monde chez l’enfant (1927). Le jugement moral chez l’enfant (1932).

[11] Tâm lý học Gestalt do các nhà tâm lý học người Đức sáng lập (Max Wertheimer, Kurt Koffka, Köhler). Gestalt tương đương với “shape” trong tiếng Anh, nghĩa là “hình thái”, khác với “hình thức” (forme; form) được phân biệt với “nội dung” (contenu; content). Các nhà tâm lý học Gestalt chống lại thuyết yếu tố (như tâm lý học của Wundt chẳng hạn), họ cho rằng ý thức không thể giản lược vào các yếu tố hay các bộ phận mà không bóp méo ý nghĩa đích thực của kinh nghiệm.

[12] La naissance de l’intelligence chez l’enfant (1937) [Sự ra đời của trí khôn ở trẻ em]. La construction du réel chez l’enfant (1937) [Sự cấu tạo cái thực tồn ở trẻ em].  La formation du symbole chez l’enfant (1945) [Sự hình thành biểu tượng ở trẻ em].

[13] Trong tâm lý học, sự trưởng thành sinh học [sự trưởng thành của các cơ quan cơ thể] ở trẻ em không chỉ có nghĩa là quá trình trưởng thành của các điều kiện của cơ thể dưới sự kiểm soát của di truyền, làm xuất hiện một hành vi có tính di truyền, mà còn có cả sự “học tập” nữa, tức trẻ em có thêm hành vi không bị qui định một cách sinh học. Ví dụ: hành vi ở giai đoạn cảm giác-vận động đòi hỏi phải có điều kiện là sự trưởng thành của hệ thần kinh.

[14] Các cấu trúc tri giác là không thể đảo ngược [irréversible], trong khi cấu trúc lôgic có thể đảo ngược được [réversible].

[15] Trong khi cấu trúc lôgic là có thể cộng gộp (additive). Ví dụ: chuỗi số nguyên 1,2,3,4,5 … không số nào tồn tại một mình, mỗi số đều được đem lại bởi qui luật cấu tạo nên nó: 1 + 1 = 2, 2 + 1 = 3 v.v.) (Theo Piaget).

[16] Một quy luật của tâm lý học Gestalt: kích thước của sự vật mà giác quan ta thu nhận thực sự có sự biến đổi rất lớn, thế nhưng ta vẫn nhận thấy cùng một vật. Ví dụ: một người đang tiến lại gần ta không thấy có vẻ to hơn theo các lý do đơn thuần về thị giác đòi hỏi. Một vật màu trắng với cái bóng mờ vắt qua nó vẫn được ta thấy là vật màu trắng.

[17] Sự phát triển ý niệm về thời gian ở trẻ em và Sự phát triển các ý niệm về sự vận động và vận tốc ở trẻ em (đều xuất bản năm 1946).

[18] Henri Piéon là tác giả của Vocabulaire de Psychologie (Từ vựng tâm lý học), xuất bản lần đầu năm 1951. Trong Lời tựa cho lần xuất bản này, Piéron viết những dòng đầu tiên sau: “Quyển Từ vựng này không dành cho các nhà ngữ học. Mục đích của tôi là làm một cuốn sách công cụ cho bất cứ ai đọc các sách hoặc các bài viết về tâm lý học.”

[19] Quyển Tâm lý học về trí khôn (Psychologie de l’intelligence).

[20] Trong số các cộng sự của Piaget nhất định phải nhắc tới Bäbel Inhelder (1913-1997). Bà là cộng sự của Piaget trong gần 50 năm và là đồng tác giả với Piaget trong nhiều công trình và sách. Nhưng trên hết, bà người gần gũi với Piaget nhất trong các cuộc tranh luận, trao đổi. Trong tiểu sử tự kể được xuất bản năm 1998, Inhelder viết: “… mọi ý tưởng chợt nảy ra tôi đều tranh luận với các cộng sự, đầu tiên là với Piaget, trong các cuộc đi dạo ở vùng quê hay vùng núi. Những trao đổi của tôi với Piaget lúc thì liên quan đến một vấn đề mới, có khi lại là về cách lý giải mới cho những thực nghiệm chúng tôi mới nghĩ ra. Cứ như thế, trong đầu tôi vẫn giữ  kỷ niệm liên tưởng những cảnh vật thiên nhiên với những ý tưởng nào đó. Tôi còn nhớ cảnh mặt trời lặn trên sông băng ở Riederap làm tôi liên tưởng tới phác thảo ba tập sách Dẫn nhập vào tri thức luận sinh triển [Introduction à l’épistémologie génétique]. Kể từ lần đó tôi chưa bao giờ quay trở lại nơi này” (theo Archives de Psychologie).

[21] Jérome Bruner và George A. Miller, hai nhà tâm lý học Mỹ được coi là những người khởi xướng cuộc Cách mang khoa học nhận thức, một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành (The Cognitive Revolution) vào những năm 1950. Lúc này tâm lý học đã giải phóng hoàn toàn khỏi tâm lý học hành vi đồng thời khoa học thần kinh đã có vị trí vững mạnh và khoa học máy tính ra đời. Tâm lý học quay về lại nghiên cứu khả năng nhận thức của bộ não (cognition).

[22] Có hai giả thuyết về sự hình thành nhận thức: nhận thức như là việc đạt tới những chân lý vĩnh hằng, độc lập với mọi sự kiến tạo và nhận thức là sự kiến tạo tăng tiến đối với cái đúng [le vrai]. Do đó có hai sơ đồ nhận thức: sơ đồ về tính thứ nhất của đối tượng. Sơ đồ này dẫn đến thuyết duy thực và thuyết duy nghiệm. Sơ đồ về tính thứ nhất của chủ thể dẫn đến thuyết tiên nghiệm [apriorisme; apriorism: ý niệm là cái có trước kinh nghiệm]. Sơ đồ về sự không thể tách rời giữa chủ thể và đối tượng là sơ đồ của hiện tượng học. Giải pháp của Piaget (tri thức luận sinh triển gần với hiện tượng học song theo hướng của thuyết hành dụng). (Theo Piaget, Dẫn nhập vào tri thức luận sinh triển).

[23] tức cử động phác qua song chưa thực hiện trọn vẹn ra thành hành động ở bên ngoài, giống như phác thảo một bức tranh: ébauche motrice; tiếng Anh: sketch.

[24] Tức dãy số nguyên từ 1 đến vô hạn.

[25] Các nhà tâm lý học trước Piaget quan tâm tới việc trẻ em biết đếm từ mấy tuổi. Song chưa ai ngoài Piaget đặt câu hỏi biết đếm có phải là đã nhận thức được các con số hay không.

[27] Thuyết thực chứng thường được gắn với các học thuyết của Auguste Compte được ông trình bày lần đầu tiên trong các bài giảng vào các năm 1830-1842 (Cours de philosophie positive). Các luận điểm chung của thuyết thực chứng là: chỉ sự nhận thức về các sự kiện có thực mới là phong phú và các khoa học thực nghiệm cung cấp các sự kiện như thế. Thuyết thực chứng từ chối mọi cái a priori (cái tiên nghiệm, cái có trước kinh nghiệm). Piaget viết Sagesse et illusions de la philosophie cũng là để bênh vực tâm lý học thực nghiệm.

[28] S. Papert sinh 1928, ngày 7 tháng 12 năm 2006 sau khi làm việc với đại học Bách Khoa Hà Nôi, khi đi qua một ngã tư ông bị một chiếc xe máy đâm phải. Sau tai nạn này ông mất khả năng làm việc trí óc. Ông qua đời ngày 31 tháng 7 năm 2016. “S. Papert chắc chắn là một trong những người có đóng góp độc đáo cho sự phát triển của thuyết kiến tạo trí khôn” (lời ca ngợi của Fondation Piaget).

[29] Piaget mất năm ông 84 tuổi (năm 1980).

[30] Xuất bản năm 1975. Đầu đề cuốn sách là L’équilibration des structures cognitives. Tít phụ: Problème central du développement [Vấn đề có tính trung tâm của sự phát triển].


| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn