Đang tải...

Tin tức-Dịch giả

Ngày đăng: 20/12/2011 NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC: và nỗi ưu tư văn hóa

Thỉnh thoảng, bạn đọc vẫn gặp nhà văn Nguyên Ngọc trên các báo, ông viết những bài viết ngắn, tâm huyết có tính chất trao đổi, mạn đàm. Thỉnh thoảng lại gặp ông ở một cuộc hội thảo, ở một giờ trao đổi về thể loại văn chương. Và nay thì những bài viết ấy được tập hợp trong một cuốn sách...

Có đọc Nghĩ đọc đường (NXB Văn nghệ) mới thấy trong nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc luôn ẩn hiện một con người ưu thời mẫn thế. Trong tác phẩm của ông, gần như làm gì để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là câu hỏi và cũng là chủ đề nhất quán và xuyên suốt. Kiến giải những vấn đề văn hóa, bao giờ Nguyên Ngọc cũng có những ý kiến cá nhân hết sức độc đáo.

Nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc, ông cho rằng "nên thử nghĩ lại về bản sắc, thế nào là bản sắc ?". Từ câu hỏi này, nhà văn đã tìm lại trong lịch sử và chứng minh rằng, bản sắc văn hóa dân tộc không phải là cái gì bất biến trong tiến trình vận động, nó luôn luôn là một sự tiếp biến, hội nhập. Và ở đây, một bài học lớn được rút ra là "Người ta chỉ có thể trở thành phong phú và cường tráng chính bằng khả năng hội nhập được với cái khác mình" và "Thay đổi được bản sắc của mình cũng là một biểu hiện sức mạnh tinh thần của một cộng đồng" (Nghĩ thêm về bản sắc).

Thông qua một người bạn Philippines, Nguyên Ngọc đồng ý rằng văn hóa phải là cái thắng, cái phanh, cái hãm của xã hội : "Văn hóa là sự bình tâm của xã hội, là phần lương tâm sâu xa bền vững nhất của nó, phần tự vấn thường xuyên của con người, của xã hội, của dân tộc" (Anh bạn “ánh chớp" lặng thầm của tôi). Nói như vậy có nghĩa động  lực văn hóa là động lực của sự thức tỉnh lương tâm con người trước những biến đổi rất nhiều dâu bể.

Hết sức bình tĩnh và công tâm, nhà văn Nguyên Ngọc đề cập đến những vấn đề cốt lõi nhất cần thay đổi trong chính sách giáo dục ở nước ta hiện nay - một bức xúc lớn mang tính thời sự. Ông cho rằng “xây dựng một nền giáo dục không phải để nhằm đào tạo nên những cái máy tinh xảo được nạp một bộ nhớ kiến thức khổng lồ... mà là tạo nên những con người tự do, biết và dám độc lập suy nghĩ, biết cách tự mình chiếm lĩnh lấy kiến thức, tự mình đi khám phá ra chân lý, lẽ phải”.

Ông sâu sắc chỉ ra cái gọi là "hư học" của một nền giáo dục. Ông chỉ ra sự cần thiết phải xem xét “sự nặng nề” trong sách giáo khoa; đề nghị "về cơ bản bỏ thi, bỏ tất cả các kỳ thi ở các cấp, đặc biệt bỏ thi vào đại học"; xem xét và thay đổi toàn bộ quá trình giáo dục từ nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy và học ở từng cấp, tôn trọng sự phát triển tối đa của cá tính, bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội học tập, lưu ý đào tạo người tài mở cửa đại học cho số đông... với một trách nhiệm công dân nghiêm túc.

Và như bấy lâu nay Nguyên Ngọc vẫn ưu tư, ông đã trở lại với một vấn đề hết sức nhạy cảm: sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên. Đây có lẽ là những trang viết hay nhất của cuốn sách. Với những luận điểm chặt chẽ khoa học và một tình yêu mãnh liệt dành cho đất và người Tây Nguyên, nhà văn Nguyên Ngọc đã chỉ ra những sai lầm rất lớn khi vùng đất Tây Nguyên bị vắt kiệt bởi nạn tăng dân số cơ học có khi lên đến 7%, bởi chính sách khoán rừng đến hộ gia đình không phù hợp. Những kế sách kinh tế sai lầm đã phá vỡ cơ chế xã hội đặc sắc đó là văn hóa làng - rừng của đồng bào Tây Nguyên. Rừng là không gian sinh tồn của làng, mất rừng là mất làng, đồng bào Tây Nguyên không hề có quan niệm tư hữu về cái gọi là hộ gia đình. Chính vì vậy, phát triển ổn định vùng đất Tây Nguyên phải nắm vững tổ chức xã hội của đồng bào Tây Nguyên, hiểu rõ sự bảo tồn không tách rời văn hóa rừng và làng.

Cũng từ góc độ văn hóa, tình yêu dành cho văn hóa Tây Nguyên, nhà văn Nguyên Ngọc đã đề cập hai thành tố văn hóa Tây Nguyên đặc sắc đó là căn phòng chung và sử thi. Dù gọi là nhà gươl (Cơtu), nhà rông (Bana, Xơđăng) hay nhà dài (Êđê)... thì căn phòng chung ấy là linh hồn của làng và tượng trưng cho tinh thần cộng đồng. Ông cho rằng, "giải pháp kiến trúc chẳng hạn cho các căn phòng trong một ngôi nhà Tây Nguyên hóa ra chẳng đơn giản tí nào, chẳng hề đơn thuần là một vấn đề kỹ thuật hay thậm chí một vấn đề  thẩm mỹ" vì "từ vị trí, diện tích cho đến trang trí, đều có căn nguyên và ý nghĩa văn hóa xã hội sâu xa".

Sử thi Tây Nguyên đã thực sự làm kinh ngạc thế giới kể từ phát hiện viên ngọc vô giá Trường ca Đam San những năm 20 của thế kỷ trước. Cho đến nay đã có hơn 200 bộ sử  thi được sưu tầm, và người ta không thể giải thích được hiện tượng mật độ sử thi kỳ lạ này ở Tây Nguyên. Cũng theo nhà văn Nguyên Ngọc không chỉ  kỳ lạ ở số lượng đồ sộ khó tưởng tượng, nó còn kỳ lạ vô cùng ở cách thức biểu hiện trong đời sống hằng ngày của người Tây Nguyên "khi kể sử thi, không phải người ta đọc lại một bản sử thi đã thuộc lòng mà người ta nhìn thấy, nhìn thấy tất cả những cái ấy, tất cả những nhân vật, những cảnh tượng ấy". Trái tim rung động bồi hồi, Nguyên Ngọc kể lại một đêm nghe sử thi để được "nhân cuộc sống của mình lên thêm vô số lần,  sống thêm được bao nhiêu cuộc đời khác nữa".

Suốt một đời cầm bút với những năm tháng lăn lộn ở chiến trường sống và viết, rồi những năm tháng hòa bình nhiều trăn trở, suy ngẫm về văn hóa là nỗi lo canh cánh của nhà văn Nguyên Ngọc. Đọc Nghĩ dọc đường, bất chợt tôi nhớ những cánh rừng xà nu bị pháo bắn tan tành, nhưng rồi sau đó như có phép lạ, những chiếc chồi nhỏ lại mọc lên đâm thủng những vết cháy từ thân cây mẹ. Phải  chăng sức sống của cây xà nu chính là biểu trưng của những giá trị văn hóa bền vững, và sức sống ấy chỉ bất diệt khi nó được gìn giữ và bảo tồn thường xuyên. Đây cũng là bức thông điệp phát đi từ trách nhiệm công dân của nhà văn gốc Quảng Nam, Nguyên Ngọc.

(Xuân Hoàng - Báo Quảng Nam)