(TTVH Cuối tuần) - Thỉnh thoảng tôi may mắn có dịp gặp gỡ và đàm đạo với các nhà văn thành danh đi trước. Câu hỏi, trăn trở, hoặc sự cật vấn của mà họ hay đặt lên vai thế hệ trẻ hôm nay là “các cậu bây giờ không còn mê văn chương như lớp chúng tôi ngày xưa…”. Mỗi thời có một cách mê văn chương. Cái “chuẩn” của sự mê thì khó ai chịu ai về mức độ quyết liệt “dữ dằn” của nó. Bây giờ có nhiều phương tiện, thuận lợi để đi và đến với tình yêu chữ nghĩa hơn. Và tôi muốn viết về một tình yêu không giống ai của một người bạn để minh chứng độ cấp “dữ dằn” ấy như thế nào khi đã chấp nhận cuộc chơi và xem đó như một giá trị tối thượng. Cách đây khoảng ba năm, đài truyền hình TP.HCM có mời tôi làm kịch bản cho chương trình Tôi và chúng ta giới thiệu ba phong cách, ba gương mặt nổi bật của làng ca nhạc, thời trang và văn học lúc bấy giờ. Về âm nhạc tôi mời nhạc sĩ Dương Thụ. Vừa gặp nhau ở Chu Bar, ông đã hỏi ngay tôi về tình hình cơn sốt văn học Nhật Bản, hiện tượng Rừng Na-uy và bập luôn vào chuyện đã đọc xong cuốn Biên niên ký chim vặn dây cót của Haruki Murakami chưa? “Tất nhiên, Biên niên ký không dễ đọc. Khó hơn Rừng Na-uy nhiều lần” ông nhận xét. “Mà này, - Dương Thụ hỏi - cái tay dịch cuốn này mình thấy lạ lắm. Đề tên là Trần Tiễn Cao Đăng. Mình chưa thấy xuất hiện bao giờ. Vậy mà dịch rất được!”. Tôi thấy Dương Thụ khen Trần Tiễn Cao Đăng thì rất khoái. Tại sao khoái thì xin cứ đọc hết bài này sẽ hiểu. Tôi hứa với nhạc sĩ là sẽ có dịp đưa Đăng đến chơi với anh. Anh Thụ cũng ngạc nhiên khi biết hiện Đăng đang ở Hà Nội. Vì anh “dây dưa” trong giới “nghệ” lâu nhưng cũng chưa nghe tên này bao giờ. “Trần Tiễn Cao Đăng nhà ở Sài Gòn anh à! Ra Hà Nội cũng mới thôi! Chỉ để làm văn chương!...”.
Cách nhìn đó của Trần Tiễn Cao Đăng cũng chiết từ quan điểm của nhà văn bậc thầy người Ý, người mà anh rất mê, là Italo Calvino. Ông viết như sau: “Những dự án mang tham vọng quá trớn có thể bị chối từ trong nhiều lĩnh vực nhưng không thể bị chối từ trong lĩnh vực văn chương. Văn chương chỉ còn sức sống nếu chúng ta tự đặt ra cho chính mình những mục tiêu bất khả lượng đạt, vượt quá tất cả những hy vọng về sự thành tựu. Chỉ chừng nào các nhà thơ và nhà văn tự đề ra cho chính mình những công tác không có bất cứ ai dám tưởng tượng đến thì văn chương ấy mới đạt được tác dụng của nó...”.
Trong suốt thời gian tôi chuyển về Sóc Trăng để sống và viết, thường cuối mỗi tháng Đăng tranh thủ xuống thăm chúng tôi. Thị xã nhỏ yên tĩnh với cái màu vàng lam chùa Miên thật khó lẫn lộn hương vị. Nỗi cô đơn chỉ còn tình yêu thi ca và văn chương thắp lửa. Chúng tôi đã cùng nhau chạy xe máy xuyên suốt các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long từ Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau... Dọc ngang trên các cánh đồng và mỗi cuộc đời châu thổ. Tôi nhận ra văn chương và cuộc sống quá cách xa nhau. Đôi khi sự phản ánh hiện thực đã trở thành che giấu, khỏa lấp hiện thực. Và thực tại quá đỗi ngột ngạt. Chỉ còn những giấc mơ vượt thoát để giải cứu và tạm thời tiếp thêm sinh lực cho thực tại. Những buổi chiều chúng tôi chạy trên những cánh đồng vắng. Nhìn về những chân trời mây đùn ụn u ám và đe dọa như báo bão. Có những chuyến đi trên vỏ vãi bương đồng nước tung trắng xóa. Tình yêu văn chương đã giúp chúng tôi gần nhau khi đồng suy nghĩ về các quan điểm và cá tính sáng tạo.
Khi Đăng quyết định nghỉ việc để dành hết thời giờ cho văn chương, bạn bè ai cũng nghĩ là anh hâm. Nhưng là người bạn thân, tôi hiểu anh đã có một quyết định đúng đắn khi gần hết những năm tháng tươi đẹp nhất của tuổi trẻ anh đã quần quật đi làm và lo lắng cho gia đình quá nhiều. Và mỗi lúc văn chương không chỉ là giấc mơ thoáng qua mà dữ dội sóng ngầm thúc hối quặn đáy. Nếu không làm được, cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa trơ lậu như cái chết.
Nguyễn Hữu Hồng Minh
Theo http://thethaovanhoa.vn
